Thắng Giả Vương Phật Hồ Sinh Kim Cương (tức Guru Rinpoche) đã hiển bày sự hóa hiện tái sinh con người làm đấng dẫn dắt của chư đạo sư uyên bác và thành tựu, Longchen Choying Tobden Dorje Mapam Chokle Nampar Gyalwa Palzangpo. Vị tôn quý này sinh năm Mộc Tỵ của chu kỳ 60 năm thứ mười ba (tức năm 1785 Dương lịch), ở Zho Pong, một nơi thuộc tỉnh hoàng kim Repkong, bản thân tỉnh này lại nằm trong vùng Hạ Amdo của Himalaya. Ngài sinh ra với cha là Ông Rinchen còn mẹ là Bà Yeshe Drolma, vũ điệu hóa hiện của Đức Bà Yeshe Tsogyal. Bà ấy cũng được biết đến với danh hiệu Gyalyum Ngodrub Drolma. Con của họ ban đầu được biết đến là Gongpo Yonten.
Từ thời thơ ấu, Ngài đã tự nhiên xuất hiện là sở hữu tính cách của một vị Thánh. Nhiều bậc thầy, đạo sư tái sinh và đấng dẫn dắt tâm linh ở quê nhà đã dạy Ngài đọc và viết, và sau đó, tự mình tinh tấn thực hành Phật giáo và rèn luyện trong các chủ đề của văn hóa Phật giáo. Kết quả là, kho tài năng của Ngài tuôn trào.
Như Bồ Tát thống lĩnh Mắt Toàn Tri trong thân người, Kalden Gyatso, tuyên bố:
Đạo sư lỗi lạc từ Oddiyana, Liên Hoa Sinh,
Đã du hành đến vùng Tây Tạng thuộc Himalaya.
Ở đây, nói chung, Ngài thánh hóa vô số địa điểm linh thiêng với chư Không Hành Nữ
Và đặc biệt là, phái hàng trăm hóa hiện của chính Ngài đồng thời.
Chư vị khai mở cánh cửa đến hàng trăm cung điện của chư Không Hành Nữ,
Bao gồm địa điểm linh thiêng chính yếu Nyagong Vách Trắng ở phía Đông
Và ẩn thất pha lê Ne Chuchik,
Nơi chư vị trói thiên và ma thế gian bằng lời thề.
Trong quá khứ, trong thời kỳ truyền bá Phật giáo đầu tiên ở Amdo,
Những tên gọi tốt đẹp của tám thánh địa thành tựu tâm linh của Repkong
Đã trở nên nổi tiếng như mặt trời và mặt trăng.
Ngài cũng tuyên bố rằng:
Hơn thế nữa, vị mang danh hiệu Kawa Dorje Wang,
Vị thành tựu Chân ngôn tôn quý từ Tu viện Kathok ở phía Đông
Đã đến thánh địa ẩn thất pha lê này và thành tựu thân ánh sáng cầu vồng.
Như những lời tán thán địa điểm này nhắc đến, trong tám thánh địa thành tựu tâm linh của Repkong xuất hiện một thánh địa có tên gọi là ẩn thất pha lê Cung Điện Thắng Lạc, thường được biết đến là ẩn thất pha lê Ne Chuchik.
Ngài Choying Tobden Dorje đã gia nhập cộng đồng tâm linh ở đó và chấp nhận ba cấp độ tuần tự của giới luật – Biệt Giải Thoát, Bồ Tát và Chân ngôn Bí mật. Ngài đã lắng nghe, quán chiếu và trưởng dưỡng kinh nghiệm về các chỉ dẫn tâm linh sâu sắc và bao la của truyền thống Nyingma gốc dựa trên kinh văn, bản văn kho tàng và phát lộ hư huyễn. Sau đó, Ngài đến địa điểm cao quý của Lời Phật như là Chỉ Dẫn Sâu Xa (tức truyền thống Kadampa), Tu viện Ragya với tên gọi Ganden Tashi Jungne Shedrub Dargye Ling. Ở đó, Ngài theo chân nhiều đấng dẫn dắt tâm linh, chẳng hạn Shingza Pandita Lobzang Dargye Gyatso. Trong năm năm, Ngài tuân theo lối sống của một tu sĩ bình phàm, chẳng có những ràng buộc gia đình, khi Ngài lắng nghe và quán chiếu về ba tuyển tập kinh văn Phật giáo và trưởng dưỡng kinh nghiệm trên con đường tâm linh của ba khía cạnh rèn luyện Phật giáo. Cuối giai đoạn này trong đời, Ngài rời đi thực hành thiền định ở các sơn thất mà không trụ lại một nơi cư ngụ cố định.
Sau đó, các tiên tri từ chư Tôn trí tuệ và chư đạo sư tâm linh đã truyền cảm hứng để Ngài tìm kiếm vị chủ bộ của bản thân, giống như vị kế thừa tâm linh của chư Phật chiến thắng, Bồ Tát Thường Đề, đã tìm kiếm vị đạo sư tên Phẩm Tính Cao Quý. Trong tim Ngài khởi lên mong muốn mãnh liệt được thọ nhận những chỉ dẫn sâu xa, thứ sẽ thúc đẩy Ngài trong chỉ một đời, trong chính đời tái sinh ấy, đến quả vị của đấng bảo hộ nguyên sơ Phật Phổ Hiền. Ngài đã du hành về phía Nam và đến những nơi như Tu viện Dzogchen, ở đó, từ Dzogchen Tulku thứ Tư – Mingyur Namkha Dorje và từ Jé-ön Pema Kundrol, Ngài thọ các quán đỉnh làm chín muồi vị thọ nhận và sự hướng dẫn trong thiền định dẫn đến giải thoát, dựa trên đại dương chỉ dẫn từ kinh văn và Mật điển.
Nổi bật hơn cả, Ngài đã đến và sống trong thời gian dài tại khu trại Giáo Pháp của Dodrupchen Rinpoche – Jigme Trinle Ozer. Ngài nương tựa Dodrupchen Rinpoche là vị chủ bộ và làm hài lòng đạo sư theo ba cách. Như thể trút nội dung của bình này sang bình khác, vị đạo sư này đã ban các chỉ dẫn như giáo lý sâu xa nói chung từ kinh văn Phật giáo và Mật điển và đặc biệt là các quán đỉnh đem đến sự chín muồi tâm linh trong ba Mật điển du già bên trong, hướng dẫn thiền định dẫn đến giải thoát và khẩu truyền kinh văn hỗ trợ. Kết quả là, Ngài đạt được sự làm chủ trong tri kiến thấy bản tính của sự thực: trong Ngài, trí tuệ, thứ khởi lên trên vô học đạo, trở nên rõ ràng hoàn hảo.
Đạo sư tôn quý, vị chủ bộ, biết rằng trong tương lai, Ngài sẽ trở thành một đấng dẫn dắt lỗi lạc cho đệ tử và Ngài có kết nối nghiệp với những vị Tôn đặc biệt. Như thế, Dodrupchen Rinpoche đã trao cho Ngài nhiều thực hành Chân ngôn phẫn nộ sâu xa từ truyền thống Cựu Dịch, bao gồm các chỉ dẫn trọng yếu sâu xa cho bốn sự thâm nhập của Trí Tuệ Tôn thù thắng vinh quang Kim Cương Đồng Tử; pho Trí Tuệ Tôn Đấng Tiêu Diệt Thần Chết, bao gồm bốn bánh xe của Diệu Vinh; đảo ngược các dấu hiệu bất tường sử dụng Trí Tuệ Tôn Mamo Botong; và nhiều chỉ dẫn sâu xa trong thực hành Chân ngôn về nghi lễ lửa, bao gồm trấn áp, tiêu diệt và phóng ra – hoạt động dẫn đến giác ngộ. Ngài đã thiền định về chúng: tập hội tất cả ý nghĩ nhị nguyên của Ngài tan hòa vào cõi vô lượng của sự hiển bày chư Tôn Trí Tuệ, Chân ngôn và trí tuệ bất nhị. Ngài đạt được sự tự tin thù thắng, vô ngại trong việc cử hành hoạt động phẫn nộ công khai.
Sau đó, đạo sư tâm linh tôn quý Dodrupchen Rinpoche đã tuyên bố như sau, “Vị thành tựu Chân ngôn đen từ phương Bắc này, như dao thiên thạch, là vị kế thừa được chỉ định của đại dương Chân ngôn phẫn nộ. Ta trao cho Ngài danh hiệu Longchen Choying Tobden Dorje Mapam Chokle Nampar Gyalwa”. Ngoài lời tán thán khích lệ và nhiều tiên tri về tương lai, Ngài bổ sung rằng, “Sự chứng ngộ của Ngài đã giải thoát dòng tâm Ngài: Giờ đây là thời điểm Ngài sử dụng lòng bi mẫn bất nhị để giải thoát dòng tâm chúng sinh khác. Hãy trở về quê nhà và chăm sóc cộng đồng đệ tử. Ngài sẽ có tác động chữa lành đối với giáo lý Phật và với hữu tình chúng sinh, và sự phụng sự chúng sinh của Ngài sẽ liên tục phát triển”.
Theo lời khai thị, Ngài đã du hành về Repkong; ở đó, Ngài tham gia vào thực hành vị bảo hộ Chúa Tể Sức Mạnh, điều khiến cho của cải và các đệ tử của Ngài tăng trưởng đáng kể. Ở quê nhà, Ngài thành lập Tu viện Kohude, được biết đến là Dzogchen Namgyal Ling, và từ đó về sau, chuỗi tái sinh của Ngài đã chăm sóc nơi này. Hiện nay, các chi tiết trong đời sống Tu viện, chẳng hạn truyền thống nghi lễ, tuân theo phong tục của Tu viện Mindrolling.
Ngoài ra, về Dodrupchen Rinpoche và Ngài Choying Tobden Dorje, một bản văn kho tàng tiên đoán rằng:
Ở phương Đông, vỏ ốc trắng sẽ xuất hiện với tiếng Phạm Thiên dội vang.
Ở phương Nam sẽ xuất hiện một quả trắng, một pháo đài tròn như gò đất.
Ở phương Tây sẽ xuất hiện vị như bông sen vàng cam bung nở.
Ở phương Bắc sẽ xuất hiện vị với sức lực như dao được cắm vào.
Như đoạn này phát lộ, các tâm tử của Dodrup Rinpoche là “bốn thanh xà chính của mái nhà”. Trong đó, ở phương Bắc, danh hiệu Choying Tobden Dorje dội vang đẹp đẽ khắp mọi hướng như tiếng trống sấm mùa Hè. Với hoạt động của một học giả uyên bác, Ngài đã giảng dạy, tranh luận và biên soạn các bản văn và với hoạt động của một vị thành tựu Chân ngôn – tức tai, tăng ích, kính ái và điều phục, Ngài chăm sóc vô số đệ tử, điều phục họ theo cách phù hợp với từng vị và thiết lập họ trên con đường Mật thừa của chín muồi và giải thoát. Nói chung, những hoạt động đa dạng của Ngài đã duy trì giáo lý của chư Phật chiến thắng không phân biệt; đặc biệt, Ngài đảm bảo rằng những giáo lý quý báu của Tâm Yếu Cõi Bao La (Longchen Nyingtik) của Cựu Dịch tiếp tục không suy giảm theo thời gian và không gian. Dòng đệ tử từ vị đạo sư này và từ Ngài Palchen Namkha Jigme được biết đến là “một nghìn chín trăm vị thành tựu Chân ngôn đen cầm dao của Repkong”. Những giáo lý liên tục của chư vị tạo thành hàng rào núi sắt chẳng gì sánh bằng, thứ bảo vệ giáo lý, một sự thực rõ ràng cho đến ngày nay.
Năm Kim Sửu của chu kỳ 60 năm thứ mười bốn (tức năm 1841 Dương lịch), Đức Shabkar Tsokdruk Rangdrol gửi thư thỉnh cầu đến Ngài Choying Tobden Dorje nhân dịp mừng Năm Mới Âm lịch. Ngài đã gửi thư đáp lại và trong năm đó, Ngài cúng dường Shabkar Rinpoche khẩu truyền và chỉ dẫn mở rộng cho bản văn gốc Kho Tàng Vô Giá Của Kinh Điển Và Mật Điển Phật Giáo cùng với các luận giải. Thông tin này được ghi lại trong tự truyện của Đức Shabkar. Khi ấy, Ngài năm mươi sáu tuổi, trong khi Shabkar Rinpoche đã bước sang tuổi sáu mươi.
Miêu tả rõ ràng trên đây chỉ là một dấu hiệu đơn thuần về tiểu sử của Ngài, được viết lại từ các phần liên quan trong Lịch Sử Phật Giáo Ở Hạ Amdo, Lịch Sử Trụ Xứ Tu Viện Ẩn Thất Chính Yếu Rongpo, Tự Truyện Shabkar Tsokdruk Rangdrol và Lịch Sử Tinh Túy Tịnh Quang. Để bổ sung cho chúng, tôi đã du hành đến Tu viện Kohude để kết tập bất cứ điều gì tôi có thể thấy hay nghe, hoặc để tìm trong những tài liệu nghiên cứu, để hoàn thiện các chi tiết của miêu tả này. Tuy nhiên, tôi không thể tìm ra ngay cả việc Ngài đã trụ thế [chính xác] bao nhiêu năm trong nhận thức của các đệ tử trên thế gian này, hay chí ít là hạt giống của một miêu tả đầy đủ, chi tiết về cách thức Ngài duy trì hoạt động giác ngộ trong giảng dạy, thực hành thiền định và hoạt động vị tha.
Mặc dù điều đó bao gồm cả tường thuật của tôi, bức thư mà Đức Shabkar Tsokdruk Rangdrol gửi đến Ngài Choying Tobden Dorje trong năm Kim Sửu của Tâm Tốt Nhất (tên của chu kỳ 60 năm thứ mười bốn) cung cấp một phiên bản cô đọng về tâm yếu tiểu sử của vị đạo sư tôn quý này, từ đó, chúng ta có thể rút ra một số thông tin mà chúng ta tìm kiếm. Vì thế, tôi đã thêm toàn bộ bức thư ở đây; Tự Truyện Của Shabkar Tsokdruk Rangdrol tuyên bố rằng:
Hơn thế nữa, tôi đã kiểm tra những giải thích xuất sắc dựa trên các chủ đề chung của vị đạo sư cao quý tôn kính của Đại Viên Mãn [tức Ngài Choying Tobden Dorje], vị thâu nhiếp cả thành tựu học thuật và thiền định, và đặc biệt, tôi đã đọc bộ luận chính yếu Toàn Bộ Truyền Thống Nyingma Từ Kinh Điển Đến Mật Điển [của Ngài]. Tôi đã phát khởi niềm tin kiên định, bất khả xâm phạm với Ngài. Vào dịp Năm Mới, tôi đã viết cho Ngài bức thư này:
Nguyện chư Tôn Trí Tuệ của sự trường thọ –
Đấng Bảo Hộ Vô Lượng Thọ, Bạch Độ Mẫu và chư vị –
Những vị ban trường thọ tôn quý
Ban cho Ngài thành tựu thọ mạng bất tử.
Hóa hiện tâm trí tuệ của chư Phật mọi phương – thời,
Đấng Orgyen, Guru Rinpoche, vị xuất hiện lần nữa trong thân Ngài,
Trong đó thâu nhiếp cả thành tựu uyên bác và tâm linh:
Vị tôn quý duy trì hình tướng này, thỉnh hướng tâm.
Hỡi đấng bảo hộ, thời quá khứ, Ngài đã đạt giác ngộ,
Thế nhưng trong những thế hệ sau, vì đệ tử mà Ngài chấp nhận,
Ngài hiển bày cuộc đời giải thoát tâm linh
Chỉ để cho họ thấy cách thức có thể đạt giác ngộ.
Từ thuở nhỏ, Ngài buông bỏ khỏi tâm mọi ý nghĩ về đời này,
Và trụ dưới gót sen nhiều đạo sư uyên bác – thành tựu.
Ngài thọ chỉ dẫn cốt tủy, lời khuyên sâu xa về Kinh – Mật điển Phật giáo,
Và loại bỏ nhận thức sai nói chung nhờ quá trình lắng nghe – quán chiếu.
Sau đó, tại những sơn thất cô tịch,
Ngài thiền định để loại bỏ nhận thức sai bên trong:
Kho phẩm tính kinh nghiệm – chứng ngộ tuôn trào trong Ngài.
Ngài tuân theo lời khuyên tiên tri của chư đạo sư và Trí Tuệ Tôn
Và đáp lại khẩn nài từ những đệ tử may mắn:
Ngài ban quán đỉnh, khẩu truyền, hướng dẫn thiền định và v.v.
Giảng dạy, tranh luận và biên soạn bất kể ngày – đêm
Để lan tỏa hoạt động hữu ích cao quý và hạnh phúc vì giáo lý và chúng sinh.
Lời của đấng dẫn dắt của giáo lý, Phật Thích Ca Mâu Ni oai hùng,
Và những vị khác trong chư Phật chiến thắng trong vô số chư vị trụ mười phương
Trải dài trong những kinh văn bao la
Và đại dương Mật điển sâu sắc.
Tinh túy cực mật của chúng, những điểm trọng yếu trong bộ luận
Mà các học giả khác nhau viết khi luận giải về lời của Thắng giả;
Hướng dẫn dựa trên kinh nghiệm tâm linh theo phong tục của các truyền thừa
Được thành lập bởi những vị thù thắng giữ gìn giáo lý;
Những lối giảng truyền thống dựa trên hệ thống tư tưởng của chư uyên bác;
Nền tảng, con đường và kết quả của những cách thức của Kinh điển và Mật điển;
Bộ ba tri kiến, thiền định và hành vi; ba cấp độ giới luật;
Năm chủ đề chính và năm chủ đề phụ của văn hóa Phật giáo:
Ý nghĩa rõ ràng được tìm thấy trong toàn bộ những cách thức của sự phát triển tâm linh –
Trọn vẹn và không lỗi – đều được tìm thấy trong kho tàng giải thích xuất sắc này,
Như một kho ngọc báu,
Toàn Bộ Truyền Thống Nyingma Từ Kinh Điển Đến Mật Điển.
Ngài đã viết điều này vì giáo lý và chúng sinh nói chung
Để cung cấp từng kỹ thuật tâm linh thiện xảo
Và đặc biệt để giúp đỡ những kẻ may mắn của hiện tại và tương lai:
Ngài thật từ ái làm sao!
Đạo sư tâm linh với lòng từ thù thắng như vậy,
Con cung kính đỉnh lễ Ngài.
Với vô vàn cúng dường, cả thật và quán tưởng, con dâng lên Ngài.
Con sám hối mọi lỗi lầm bởi nhìn Ngài với tà kiến hay thiếu niềm tin.
Con tùy hỷ trước cuộc đời cao quý giải thoát tâm linh của Ngài.
Xin hãy tiếp tục chuyển bánh xe giáo lý.
Con khẩn nài Ngài trụ thế trăm năm và hồi hướng
Kho hành động cao quý để đảm bảo gót sen Ngài trụ vững trên thế gian.
Đạo sư tâm linh, nguyện Ngài mạnh khỏe, rạng rỡ oai nghiêm.
Nguyện Ngài trường thọ trong sự an lành thù thắng;
Đạo sư tâm linh, nguyện vinh quang tốt lành của Ngài lan tỏa;
Và đặc biệt, nguyện mục tiêu Ngài dự định đều thành công.
Nguyện của cải của thí chủ cho giáo lý Ngài phát triển
Và nguyện giáo lý của Ngài trụ dài lâu trên thế gian này.
Khi con gặp Ngài và những vị xung quanh Ngài, sự kiện mà con mong mỏi,
Cầu mong duyên khởi cát tường khởi lên để chúng ta hạnh ngộ nhiều lần.
Trong niềm hạnh phúc hoan hỷ vô cùng,
Nguyện chúng ta đều hưởng duyên khởi cát tường thuận lợi cho thực hành Phật giáo.
Con dâng lên bức thư này cùng với vật đại diện cho những ý định của con – những viên thuốc làm lúc kết thúc thực hành trường thọ – và món quà khăn lụa thiêng thêu chư Trí Tuệ Tôn trường thọ.
Shabkar Rinpoche đã viết như vậy.
Người ta nói rằng tuyển tập các bộ luận được viết bởi vị đạo sư tâm linh vĩ đại này, Ngài Choying Tobden Dorje bao gồm các bản văn như Hành Động Trấn Áp Cuối Cùng, Núi Thù Thắng Đen, một phần từ pho của Ngài về áp dụng thực tiễn Chân ngôn phẫn nộ. Bộ luận chính yếu trong những cuốn sách của Ngài có tựa đề Toàn Bộ Truyền Thống Nyingma Từ Kinh Điển Đến Mật Điển, một tác phẩm làm sáng tỏ mọi cách thức phát triển tâm linh. Mười ba quyển lớn tạo thành bộ luận này. Ngài bắt đầu biên soạn vào năm Hỏa Thân của Tâm Tốt Nhất, chu kỳ 60 năm thứ mười bốn (tức năm 1836 Dương lịch), và hoàn thành thành công ở tuổi năm mươi ba, vào năm Thổ Tuất (1838).
Bộ luận này bao gồm năm phần: (1) bản văn gốc, (2) đề cương, (3) luận giải cô đọng, (4) luận giải mở rộng và (5) một phiên bản minh họa. Bản văn gốc được viết dưới dạng đoạn kệ trong khi các phần khác được viết bằng văn xuôi hoặc hình vẽ. Trong quyển đầu tiên trong mười ba quyển, quyển Ka trong tiếng Tạng, chúng ta tìm thấy bản văn gốc và đề cương. Trong quyển hai, quyển Kha, chúng ta tìm thấy luận giải cô đọng. Trong chín quyển tiếp theo, từ quyển Ga đến Da, chúng ta tìm thấy luận giải mở rộng. Trong chín quyển này, phần kinh văn bao gồm hai quyển. Các chủ đề của sự nghiên cứu cũng nằm trong hai quyển. Các Mật điển cũng nằm trong hai quyển. Đại Viên Mãn nằm trong ba quyển. Trong quyển thứ mười hai và mười ba, chúng ta tìm thấy toàn bộ các chủ đề của bản văn gốc được trình bày bằng những minh họa.
Bản khắc gỗ của bộ luận này từng tồn tại nhưng năm 1937, bọn cướp từ tộc Ma đã cố tình phá hủy chúng. Thế nhưng, sau này, đạo sư tái sinh tôn quý Tubten Nyima [1], vị trân trọng sâu sắc các bản văn truyền thống của văn hóa Tây Tạng, và những vị có tâm tương tự, đã tìm kiếm, thu thập và chuẩn bị ấn bản này, điều mà giờ đây chúng tôi có thể xuất bản.
Được cung kính viết lại bởi kẻ được gọi Nor-de, kẻ tàn tật và ngu dốt từ vùng đất Golok. Cầu mong may mắn xuất sắc phát triển!
Tiểu sử này được đưa vào ấn bản năm 2000 của "Toàn Bộ Truyền Thống Nyingma Từ Kinh Điển Đến Mật Điển" do Nhà xuất bản Dân tộc Tứ Xuyên xuất bản. Tác giả Nor-de là một nhà văn và biên tập viên nổi tiếng, người giữ chức vụ Trưởng Văn phòng Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc huyện Golok, tỉnh Thanh Hải.
Trích dịch từ cuốn sách The Complete Nyingma Tradition from Sutra to Tantra, NXB Snow Lion.