Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái,
Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Chu Mạnh Trinh là khách hành hương tới Hương Sơn để hưởng thú “bầu Trời, cảnh Bụt”; nhưng thật ra là đang viếng cảnh biển xanh biến thành nương dâu đang hiện tướng trong tâm thức của chính mình. Chim ríu rít cúng dường hoa trái. Cá lặng lờ ngừng vẫy nghe kinh là khi Tâm Kinh biến thành Chân Kinh.
Nguyễn Du cũng đã qua bao nhiêu trải nghiệm thăng trầm của thế sự, nhưng mãi tới khi về lại với chính mình mới tìm được Chân Kinh:
Ngã độc Kim Cang thiên biến linh...
Kim Cang vô tự thị Chân Kinh.
(Nghìn lần ta đọc Kim Cang...
Kim Cang thật nghĩa là trang không lời.)
Kinh có Khế kinh, Tâm kinh và Chân kinh.
Khế kinh là những tạng kinh đã thành quy ước chung của kho tàng kinh điển nhà Phật.
Tâm kinh là những phẩm kinh trở thành trái tim, xương sống của giáo lý nhà Phật như Bát Nhã Tâm Kinh. Hoặc như kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ là tâm kinh của Tịnh Độ Tông; Đại Nhật là tâm kinh của Mật Tông...
Chân kinh là khi kinh không còn ở dạng hình thức ngôn từ, chữ nghĩa nào nữa. Kinh như chiếc bè đưa người qua sông. Tới bến thì bỏ bè; sống đạo thì không còn kinh. Kinh là phương tiện để đánh thức và nhắc nhở như tiếng chuông, tiếng tán. Thuộc kinh để tu hành mong đạt tới chỗ quên kinh khi kinh không còn là ý, là lời mà kinh đã tan loãng và hòa quyện thành máu thịt.
Tuy nhiên, thực tế đã chỉ rõ rằng, nếu không phải là thần đồng Bồ tát hóa thân thì căn bản trước nhất là phải qua ngõ Khế Kinh trước đã. Nghĩa là phải tiếp cận để hiểu và tu học “kinh thường” như một cửa ngõ khai tâm, luyện trí. Về sau, tùy theo bề dày của công phu tu tập mà tiến tới tầm cao của Tâm kinh và Chân kinh.
Nhớ ngày Mồng Một Tết, tôi không đọc kinh mà suy nghĩ vẩn vơ về kinh. Một ý nghĩ chưa thành cho tới bây giờ.
Sống ở phương xa, ngày đầu Xuân, pha chén trà cúng Phật và Ông Bà, tôi không cúi đầu – đê đầu tư cố hương – như Lý Bạch ngày xưa mà ngẫng mặt nhìn bàn thờ phơ phất khói nhang; nhớ quá quê nhà đang ngon giấc nửa đêm bên kia.
Để tự mình chúc phúc đầu năm, tôi mở cuốn Nghi Thức Tụng Niệm ra đọc phẩm Cầu An. Chút tỉnh giác mượt mà sớm mai đi đâu mất khi tôi đối diện với kinh. Những câu kinh Hán Việt làm đầu óc tôi mệt mề và trở nên lười biếng. Tuy không xa lạ với chữ Hán, nhưng cảm xúc nhớ quê hương làm tôi thèm nghe giọng nói chân quê của Mẹ. Tiếng Mẹ đối với đàn con tha hương cũng là “Chân kinh” vượt ra ngoài phạm trù của ngôn ngữ quy ước.
Thuở ấy, tôi được bà con khen vì còn nhỏ mà đã đọc thuộc lòng mấy bài kinh “Nam mô, ma ha, tô rô...” khó nhớ, khó hiểu. Miệng tôi đọc theo bác chủ lễ và toàn ban tụng niệm trơn tru như hát đồng ca một bài hát tiếng Quan Thoại, nhưng trí óc thì lại mù mịt về ý nghĩa. So với bầy cá ở khe Yến nghe kinh của Chu Mạnh Trinh – trăm năm trước – thì chúng tôi – trăm năm sau – cũng chả hơn gì mấy. Rồi năm mươi năm sau, tới thế hệ con cháu chúng tôi, bầy cá nghe kinh cũng cứ vẫn còn “lửng lơ” như thế. Các bài kinh tụng đọc phổ thông trong sinh hoạt chùa viện của Phật giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước càng ngày càng trở nên khó hiểu đối với thế hệ trẻ vì ngôn từ Hán Việt của kinh văn đọc tụng còn quá nặng nề và thiếu thống nhất.
Về mặt tích cực, tuy công trình dịch thuật chưa hoàn mãn, nhưng thế hệ đàn em phải ghi nhận để trân trọng tán dương công đức của thế hệ đàn anh. Đó là một công trình tổng hợp của chư tôn thiền đức, quý thiện tri thức, cư sĩ Phật tử, học giả thân hữu và đại chúng Phật tử đã hiến dâng nhiều tâm sức vào nỗ lực phiên dịch kinh tạng từ chữ Phạn, chữ Hán sang ngôn ngữ thuần Việt.
Nói đến Đại Tạng Kinh Phật giáo là nói đến một cánh rừng Thiền của chữ nghĩa.
Chỉ mới nói đến mục lục chi tiết để liệt kê tên từng tạng và phẩm kinh không thôi thì tác phẩm dịch thuật công phu Phật Giáo Đại Tạng Kinh - Tường Tế Mục Lục của thầy Thích Chánh Lạc cũng đã dày ngót 900 trang. (Phú Lâu Na xuất bản năm 2002). Theo các bản dịch tiếng Anh, nếu phỏng tính trung bình mỗi trang có khoảng 500 chữ – kiểu chữ Times New Roman và cỡ chữ 12 – thì Đại Tạng Kinh Pali có khoảng 30.000 trang và Đại Tạng Kinh Trung Hoa có khoảng 80.000 trang (một số lượng bằng 40 lần Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa; nếu dựa vào tiêu chuẩn New King James Version). Phật giáo Trung Hoa với trên 2.000 công trình trước tác kinh luận đã nâng số lượng kinh điển Phật giáo lên 3, 4 lần kể từ khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa. Con số nầy nói lên một thực tế rằng, nỗ lực cá nhân không kham nổi mà phải cần tới cả một tập thể hành giả, trí giả, dịch giả chuyên biệt mới làm nổi công việc dịch thuật và hiệu đính kinh tạng nhà Phật.
Đạo Phật truyền thừa vào Việt Nam đã hai nghìn năm qua. Phật giáo Việt Nam không thiếu nhân tài và các bậc danh tăng tôn túc đã dày công dịch thuật Tam Tạng kinh điển. Nhưng những cuộc xâm lăng liên tục, truyền đời tàn bạo và âm mưu đồng hóa của Trung Hoa đã càn quét và vùi dập mọi nỗ lực hoàn thiện một hệ thống chữ viết Quốc âm như chữ Nôm. Nghiêm trọng nhất là Bắc thuộc lần thứ Năm (1407-1427) với cuộc xâm lăng của quân Minh, gây binh kết oán suốt 20 năm, mà Nguyễn Trãi đã tuyên cáo: “Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa; bọn gian tà còn bán nước cầu vinh...” Trong cuộc xâm lăng nầy, quân Minh đã vơ vét mọi kinh sách, tác phẩm dịch thuật và những công trình trước tác của Phật giáo Việt Nam để chở về Trung Quốc. Việt Nam tuy có sức sống độc lập cộng với tinh thần chống ngoại xâm kiên trì, dũng mãnh nên còn giữ được vốn văn hóa và tiếng nói dân tộc; nhưng vẫn không tránh khỏi thương tích đầy mình. Nền móng chữ Nôm lung lay và lụi tàn. Hệ thống chữ viết dựa theo mẫu tự La Tinh xuất hiện muộn màng do nhu cầu của các nhà truyền đạo phương Tây chứ không phải xuất phát từ tri thức và máu thịt của dân tộc như hệ thống chữ Hán, chữ Nhật, chữ Đại Hàn. “Bóng đè” của chữ Hán Việt vẫn ngự trị nặng nề trên hầu hết những lĩnh vực tư tưởng, giáo dục và xã hội Việt Nam. Kinh điển chữ Hán trở thành phương tiện chiếm lĩnh trong sinh hoạt đạo Phật. Hệ lụy của Hán Tạng sâu đậm tới nỗi khuynh hướng sính chữ Hán, đọc tụng kinh chữ Hán, viết sớ điệp bằng chữ Hán, xem chữ Hán như một “linh tự” trong chùa chiền vẫn còn thâm căn cố đế tới ngày nay. Nhiều nỗ lực dịch thuật, Việt hóa nghi thức, thực hành tụng đọc kinh kệ bằng tiếng Việt, chữ Việt gặp nhiều trở ngại. Nguyên nhân chính của sự trở ngại này là vì giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia vẫn còn mang mặc cảm chữ nghĩa “thông Nho, thạo Hán” đầy kiến chấp không còn thích hợp vào sinh hoạt tu hành ngày nay. Thế nhưng về mặt tâm lý, vô hình chung, hiện trạng “nói chữ” nầy lại có vẻ như giúp nâng tầm “thức giả” của người tụng kinh niệm chú chữ Hán trước mắt đại chúng bình dân.
Đại Tạng Kinh Việt Nam
Sự nghiệt ngã của hoàn cảnh lịch sử đã khiến Việt Nam thành một nước “ăn sau, chạy dọi” trong công trình phiên dịch một Đại Tạng Kinh Việt Nam.
Chữ viết và ngôn ngữ tuy cũng chỉ là phương tiện văn hóa, nhưng đấy cũng chính là niềm tự hào dân tộc mà nước Việt Nam đã bị Trung Quốc giày xéo, vùi dập, phá tan, lấy đi, tráo lại qua những thời kỳ Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm. Việt Nam, tránh được mối nhục đồng hóa, mối họa mất nước nhưng phải trả giá là sự lụi tàn của của chữ Nôm hay một hệ thống chữ viết thuần túy Quốc Âm tương tự. Và riêng Phật giáo Việt Nam bị “bóng đè” của kinh tạng chữ Hán nặng nề đến nỗi đã hơn hai nghìn năm qua mà vẫn chưa có được một Tạng Kinh Việt Nam thuần Việt.
Một vấn đề thuộc phạm trù văn hóa Phật giáo được đặt ra là một bản dịch hoàn chỉnh cho Đại Tạng Kinh Việt Nam sẽ dựa trên căn bản Đại Tạng Kinh nào.
Các Đại Tạng Kinh hoàn thiện nhất của Phật giáo hiện nay được bảo lưu theo các hình thức ngôn ngữ:
Tiếng Phạn (Samskrta) là một cổ ngữ của Ấn Độ. Riêng trong ngôn ngữ truyền thống của đạo Phật, hình thức văn tự thường có hai hình thái:
Phật giáo Nguyên thủy dùng kinh tạng Pali (còn được hiểu như là Nam Phạn). Điển hình ở các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt.
Phật giáo Phát triển, còn gọi là Đại Thừa hay Bắc truyền dùng kinh tạng Sanskrit (còn được hiểu như là Bắc Phạn).
Bên cạnh đó, Hán tạng và Tây Tạng tạng lại được nhánh Phật giáo Đại Thừa, Bắc truyền có khuynh hướng chọn làm chuẩn mực. Điển hình là ở các nước Trung Hoa, Tây Tạng, Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn.
Tuy nhiên, với
tinh thần “tùy duyên bất biến” của
tinh hoa truyền thừa giáo lý nhà Phật, hầu như các
Đại Tạng Kinh đều không khác nhau về triết lý và tín lý cơ bản của nhà Phật. Có rất nhiều điểm tương đồng và nhiều
thuật ngữ có thể
hoán chuyển cho nhau giữa Pali và Sanskrit.
Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu Tam Tạng kinh điển nhà Phật theo khuynh hướng
bảo thủ thường chọn Pali tạng làm chuẩn mực
phiên dịch và
so sánh.
Với
Phật giáo Việt Nam ngày nay, một
Đại Tạng Kinh Việt Nam là niềm mong mõi chung. Nhiều
công trình dịch thuật và
hiệu đính đã và đang tiến
hành đồng thời với sự tinh lọc và bổ sung cho nhau. Các
công trình dịch thuật và
hoàn thiện một
Đại Tạng Kinh bằng tiếng Việt
thuần túy đã khởi động và tiến hành từ mấy chục năm qua bằng nhiều
phương tiện và quy mô khác nhau.
Trong nước, đầu năm 1990 (Canh Ngọ),
Hội đồng Phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam được
thành lập. Đây là sự
phối hợp trên một quy mô lớn với sự
tham gia của quý tu sĩ,
cư sĩ và
trí thức có
năng lực đáng tin cậy trong lĩnh vực
ngôn ngữ,
Phật học. Chỉ
trong vòng 1 năm,
cuối năm 1991, hai
bộ kinh đầu tiên - Trường A-Hàm dày 1200 trang,
Trường Bộ Kinh dày 1360 trang - được
phiên dịch,
hiệu đính và
công bố. Qua năm 1992, hai
bộ Kinh Trung A Hàm (3 tập) và
Trung bộ kinh (3 tập)
lần lượt được
ấn hành để đặt
nền móng cơ bản cho công tác hình thành
Đại Tạng Kinh Việt Nam. Và những năm
tiếp theo, những
bộ kinh phiên dịch lần lượt được
ấn hành và
công bố.
Trong vòng 20 năm qua, một “tập đại thành” chung quyết
tương đối hoàn chỉnh của
Đại Tạng Việt Nam vẫn đang trên đà
hoàn thiện.
Ngoài nước, năm 2004, kẻ viết bài nầy được mời vào
Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam từ Hán tạng. Đây là một
dự án sử dụng phần mềm của những
chương trình chuyên dịch
tinh tế và
hiện đại của vi tính vào
công trình phiên dịch.
Tất cả 2372 bộ Kinh trong Hán Tạng được phiên âm và lược dịch bằng máy vi tính trong vòng 28 giờ. Các bộ kinh ngắn chỉ cần dưới 10 giây đồng hồ. Các bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm (80 quyển) dịch trong 11 phút, bộ Đại Trí Độ Luận 17 phút, và bộ Đại Bát Nhã (600 quyển) 50 phút.
Năm 2006, các
Tăng Ni Việt Nam du học ở Sri Lanka cũng
xây dựng một
dự án thực hiện Đại Tạng Kinh Song Ngữ (Pali -
Việt Nam) tổng cộng 58 tập. Đây cũng là một
công trình lâu dài vì
Đại Tạng Kinh Pali-Tích Lan hay Pali-Thái Lan cũng phải mất
thời gian phiên dịch trung bình là 30 năm.
Dịch thuật khác với
sáng tác vì công việc
chuyển ngữ đòi hỏi phải có
trình độ ngoại ngữ
vững vàng,
kiến thức chuyên khoa
phong phú và sự
am hiểu văn hóa và ngữ cảnh của cả hai
ngôn ngữ dịch và được dịch.
Từ trong khái niệm
sâu xa nhất của
ngôn từ Hán Việt, kinh Phật được
xem như là Thơ (Thi = Ngôn + Tự).
Ngôn ngữ thơ là sự cô đọng
tinh túy của ý và lời. Như một bài thơ ngắn nhất trong những bài thơ là bài
tứ tuyệt Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế đời Đường. Nó đã
trở thành tuyệt phẩm
lưu danh thiên cổ. Bài
Bát Nhã Tâm Kinh của
Huyền Trang là
bài kinh ngắn nhất trong những
bài kinh của
Phật giáo. Từ 600 cuốn của bộ Đại
Bát Nhã,
Huyền Trang đã
rút lại chỉ còn 260 chữ. Nhưng
Bát Nhã Tâm Kinh đã
trở thành trái tim
tuệ giác của
đạo Phật.
Thế giới Phật giáo xưa nay chưa có
bài kinh nào ngắn mà hơn được về triết lý
uyên áo,
ngôn từ thâm diệu và
âm hưởng trác tuyệt bằng
bài kinh này. Phần Việt dịch cho kinh
Bát Nhã đến nay đã có trên 15 bản dịch của các bậc
danh Tăng và
học giả trong cũng như ngoài nước, nhưng chưa có bản dịch nào được xem là đạt chuẩn mực về sự
chuyển ngữ. Cái gút thắt nổi cộm chung của các
công trình dịch
Bát Nhã Tâm Kinh chưa đạt vẫn là khái niệm về
từ ngữ thiếu đồng bộ và
tương ứng giữa Hán Việt và Thuần Việt. Ví dụ trong muôn một là từ Hán Việt có 4 chữ khác nghĩa tách bạch, rạch ròi như: “không”, “vô”, “bất”, “phi” thì tiếng Thuần Việt chỉ có một chữ “không…”
tương ứng. Khi
chuyển ngữ, người dịch khó
tránh khỏi giới hạn liễu nghĩa của
từ ngữ. Trong lúc đó thì “Không” là một khái niệm cốt tủy của
Bát Nhã Tâm Kinh, nên biết bao dịch giả
tài hoa và có thẩm quyển về mặt
tư tưởng và
chữ nghĩa nhà Phật như quý thầy Thích
Minh Châu, Thích Thiện Hoa, Thích Thanh Từ, Thích Nhất Hạnh… cũng chưa
vượt trội ra ngoài
giới hạn của ngôn ngữ!
Bởi vậy, trong lĩnh vực nhân văn mà
đặc biệt là
ngôn từ, ngữ văn thì máy móc chỉ là
phương tiện phụ trợ chứ không thể thay thế hẳn được
con người. Khi cái máy vi tính làm công việc
chuyển ngữ trong vòng 28 tiếng đồng hồ thì phải cần tới một đội ngũ của hàng trăm đầu óc chuyên môn, tinh lọc và
hiệu đính trong một
thời gian không thể dưới vài ba mươi năm. Đã hơn 10 năm qua và
liên tục tới
hiện tại, có từ 50 đến 100
tăng ni,
học giả... đông nhất là ở chùa Châu Lâm và
trung tâm Liễu Quán Huế đang tập trung vào công tác
hiệu đính và
hoàn thiện Đại Tạng Kinh Việt Nam sau khi
Đại Tạng Kinh Hán Việt được dịch sang Thuần Việt bằng
chương trình chuyển ngữ vi tính..
Ước mong sao các nhóm
thực hiện Đại Tạng Kinh Việt Nam sẽ
kết hợp lại
với nhau để
cùng chung tài,
chung sức thực hiện một
Đại Tạng Kinh bằng tiếng Việt
thuần túy có tầm cỡ
quốc gia và quốc tế cho những
thế hệ mai sau. Có thể nói
Đại Tạng Kinh Việt Nam là một “Giấc Mộng Lớn” cho
ước mơ thành
hiện thực.
Thiền Môn Nhật Tụng Trong khi các bậc tôn đức đang lo chuyện “trời biển” về việc
hoàn thiện một
Đại Tạng Kinh Việt Nam thì những
bài kinh văn đang được dùng để
đọc tụng hàng ngày trong các chùa viện
Phật giáo Việt Nam – trong cũng như ngoài nước – đang
trải qua một
thời kỳ tù đọng “xưa bày, nay làm”. Đó là
nghi thức tụng niệm phổ thông đang lâm vào cảnh chìm nổi của
ngôn từ, lễ nhạc,
nghi thức,
pháp cụ và pháp khí… khiến
phương tiện hành lễ thành ra bất nhất. Thậm chí, có nơi “tùy nghi phương tiện” theo nhu cầu và
cảm hứng riêng.
Cụ thể nhất là những câu kinh phiên âm Hán Việt đã trở nên “tối hù” vì
đại chúng và nhất là
tuổi trẻ phải
đọc tụng hay nghe xướng âm mà không hiểu nghĩa.
Như phần
dẫn nhập ở trên đã trình bày, kẻ viết những dòng này cũng như các
bạn đạo cùng
thế hệ hay cao niên hơn, đã
trải qua gần hết đời mình làm “cá nghe kinh” với những
nghi thức tụng niệm “Hán-Nôm bất nhất” như thế. Sự nhập nhằng giữa các
bài kinh Hán Việt và Thuần Việt trong quá nhiều cuốn
Nghi Thức Tụng Niệm được giới cầu phước
cầu tài cúng dường, thu băng, in ra và phát hành
miễn phí ở các chùa như bươm bướm. Tất cả đều thiếu sự
chỉ đạo của
Hội đồng Chứng minh từ phía các bậc
tôn túc nên càng làm cho
quần chúng Phật tử bị lạc vào những mớ kinh văn
hỗn độn.
Trực tiếp hơn là trong các khóa lễ, các vị
chủ lễ xướng tụng “câu Hán hoán câu Việt” theo cảm tính chọn lựa
cá nhân đã
dần dần biến
Nghi Thức Tụng Niệm hành lễ hằng ngày của
đạo Phật khi tỏ khi mờ, mỗi nơi một khác. Những
bài kinh đáng lẽ mang một
ý nghĩa trong sáng, cao sâu hóa ra
trở thành khúc mắc và
bí hiểm gần với
hình thức bùa chú, ấn quyết hơn là “nguyện giải
Như Lai chơn thiệt nghĩa”.
Từ
bản chất và
tác dụng, kinh không phải là để
phụng thờ hay
đọc tụng ngân nga nhằm
thỏa mãn cảm xúc cầu khấn kiểu “thầy cúng qua đường” dùng lối
đọc tụng kinh chú để bắt ma,
trừ tà, ếm quỷ. Kinh là một
phương tiện thiện xảo để
chuyển hóa tâm linh. Muốn được vậy, ý kinh phải
rõ ràng, lời kinh phải
trong sáng mà hình thái
lý tưởng nhất là bằng chính
ngôn ngữ ruột (mẹ đẻ) của người
đọc tụng.
Đối với hàng
Phật tử sơ cơ, nhất là đối với
thế hệ tuổi trẻ hướng Phật, sự thống nhất về một
nghi thức “Thiền Môn Nhật Tụng” thuần tiếng Việt đầy đủ tính
trong sáng,
dễ hiểu,
đại chúng đang
trở thành một nhu cầu
cấp thiết trong
sinh hoạt tu học của
Phật giáo Việt Nam. Có thể nói một cách đầy biểu cảm theo
chữ nghĩa của Tản Đà rằng, đó là một “Giấc Mộng Con” của người
Phật tử hiện nay.
Phương tiện dồi dào và tiềm năng
phong phú của
Phật giáo Việt Nam hiện nay có thừa
công lực để biến
giấc mộng con đó thành
hiện thực.
Hy vọng rằng, đây sẽ là khởi điểm cho bất cứ một
ý hướng chấn hưng –
hiện đại hóa,
cải cách, ứng dụng… –
Phật giáo nào trong một
hoàn cảnh rất “nhạy cảm” toàn cầu hiện nay.
Khi hỏi về
nguyên nhân nào đã
đưa tới sự
kết hợp hài hòa giữa
Thần Đạo và
Phật Giáo để tạo ra tính dân tộc đầy bản lĩnh của người Nhật đã được
thể hiện qua dòng
lịch sử đầy tai trời ách nước của xứ nầy làm cho
thế giới khâm phục, thầy Seigen Yamaoka,
sư trưởng chứng minh của
Hiệp Hội Phật Giáo Châu Mỹ (Buddhist Churches of America) ở San Francisco
trả lời: “Nhật Bản đoàn kết trước khi hành động nên thường
đúng lúc.
Nơi khác hành
động trước khi đoàn kết nên thường
muộn màng.”
Nhân gian ai lại chẳng thích
đúng lúc; chẳng có ai thích
muộn màng. Câu nói giản đơn mà
dư âm thâm sâu như một
công án, thật đáng cho người
Phật tử Việt Nam hôm nay và
mai sau chấp tay suy gẫm.
Sacramento, đầu mùa Noel 2011
Trần Kiêm Đoàn