CHỐNG LẠI Ô NHIỄM
Tập hợp các đoạn trích từ các bài thuyết Pháp
đã được dịch ra tiếng Anh của Phra Ajahn Suchart Abhijāto
Dịch Anh – Việt: Phương Thủy Tháng 9/2025
Chống Lại Ô Nhiễm - Against the Defilement
Phra Ajahn Suchart Abhijāto Một vị tu sĩ đã xuất gia để đi tìm chân lý của bậc Giác ngộ. Vị ấy đã tìm thấy chân lý bằng cách từ bỏ lối sống thế tục để chấm dứt vòng luân hồi— đi ngược lại với bản chất của ô nhiễm.
Nếu quý vị hỏi tôi đã trải qua đau khổ hay không, hay đau khổ kiểu gì, tôi sẽ nói rằng tôi đã thực sự không cảm thấy hạnh phúc. Niềm vui mà tôi cảm thấy không kéo dài được lâu. Niềm vui từ tiệc tùng và xã giao rất ngắn ngủi. Một khi nó qua đi, nỗi buồn và sự cô đơn lại ập đến. Vậy nên quý vị lại phải xã giao và tiệc tùng tiếp nữa. Và vòng luẩn quẩn này cứ tiếp diễn. Vì vậy, tôi phát ốm và chán ngấy nó.
TIỂU SỬ
Phra Ajahn Suchart sinh ngày 2 tháng 11 năm 1947. Cha của ông đã gửi ông cho bà nội chăm sóc, bà sống ở Suphanburi, khi đó ông mới hai tuổi do lịch trình làm việc khắt khe của cha ông.
Phra Ajahn Suchart quan tâm đến Giáo pháp từ khi còn học ở trường phổ thông tại Trường Ekamai Cơ Đốc Phục Lâm (Seventh Day Adventist Ekamai School) ở Bangkok, nay là Trường Quốc tế Ekamai. Sau khi tốt nghiệp trường trung học, ông theo học ngành Kỹ sư Xây dựng dân dụng tại trường Đại học Bang California, Fresno (Hoa Kỳ). Ông đã trở về Thái Lan sau khi tốt nghiệp đại học và đã làm điều hành một tiệm kem trong một thời gian ngắn.
Một cuốn sách về Giáo pháp bằng tiếng Anh viết về vô thường (anicca) –– được dịch bởi một nhà sư nước ngoài từ Kinh điển Phật giáo (Tipiṭaka) –– đã truyền cảm hứng cho ông đi tìm kiếm một hạnh phúc thực sự thông qua việc xuất gia.
Phra Ajahn Suchart quyết định xuất gia làm nhà sư khi 27 tuổi. Ông được thọ giới tại Wat Bovornives ở Bangkok vào ngày 19 tháng 2 năm 1975 với Ngài Somdet Phra Ñāṇasaṅvara — Ngài cố Tăng thống (Somdet Phra Sangharājā) — là thấy tế độ của mình. Cha mẹ Ajahn không phản đối việc ông xuất gia vì đó là sự lựa chọn của ông.
Về lý do tại sao tôi đã xuất gia, tôi không xuất gia vì tôi thất tình. Tôi chưa bao giờ có bạn gái. Tôi chưa bao giờ trải qua bất kỳ mất mát nào; cha mẹ tôi vẫn còn sống. Tôi đã không biết bị thất tình là như thế nào. Tôi đã không biết phải đau buồn vì điều gì.
Nếu quý vị hỏi tôi liệu tôi đã trải qua đau khổ chưa hay loại đau khổ nào, tôi sẽ trả lời rằng tôi chỉ thực sự không cảm thấy hạnh phúc. Niềm hạnh phúc mà tôi cảm thấy không kéo dài. Niềm hạnh phúc từ tiệc tùng và xã giao rất ngắn ngủi. Một khi nó qua đi thì nỗi buồn và sự cô đơn lại ập đến. Vì vậy, khi đó quý vị phải giao lưu và tiệc tùng một lần nữa. Và chu kỳ này tiếp tục diễn ra. Vì vậy, tôi đã phát ốm và mệt mỏi vì nó.
[Tôi đã suy nghĩ] hẳn là có thứ gì đó tốt hơn thế này. Khi tôi đã đọc những cuốn sách về Giáo pháp, tôi phát hiện ra rằng có thứ như vậy. Do đó, tôi bắt đầu hành thiền và nhận ra rằng loại hạnh phúc này là có thật. Một khi quý vị đã trải nghiệm điều đó, quý vị cảm thấy thoải mái và không cần phải dựa dẫm hay phụ thuộc vào bất kỳ ai. Quý vị thậm chí không cần đến tiền, trong khi xã giao và tiệc tùng lại cần tiền.
Khi tôi đã đạt được định (samādhi), tôi bị cuốn hút và bắt đầu muốn nhập vào trong định ngày càng nhiều hơn. Tôi muốn ở trong định (samādhi) cả ngày lẫn đêm, vậy thì quý vị phải luyện tập liên tục suốt ngày đêm.
Khoảng sáu tuần sau khi xuất gia, Phra Ajahn Suchart đã đi đến Wat Pa Baan Taad để tu tập trong mùa an cư với Luangta Mahā Boowa Ñāṇasampanno ở Udon Thani. Ajahn Suchart đã ở đó trong chín năm kể từ mùa an cư đầu tiên đến mùa an cư thứ chín của mình. Ajahn Suchart kể lại trải nghiệm của mình tại Wat Pa Baan Taad như sau:
Tôi chỉ đơn giản tiếp tục là một nhà sư khi tôi ở Wat Pa Baan Taad. Tôi thường không thích trò chuyện với ai hay tham gia với ai. Vì vậy, khi tôi ở đó, tôi chỉ đơn giản là cố gắng thực hiện nhiệm vụ của mình. Tôi đã tự hành thiền và tu tập. Sau khi hoàn thành xong việc lao tác và nhiệm vụ của mình, tôi quay trở lại chỗ của mình và thực hành thiền ngồi và thiền đi.
Khi Luangta gọi họp, tôi tham dự để nghe Luangta nói, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp thực sự nói chuyện với Ngài vì tôi không thực sự cảm thấy cần thiết. Ngài đã dạy mọi thứ trong các bài Pháp thoại của mình, từ giới (sıla), định (samādhi), tuệ (paññā) cho đến giải thoát (vimutti).
Tôi cũng đã đọc và dựa vào những cuốn sách về Giáo pháp của Luangta. Vào thời điểm đó, mới chỉ có hai hay ba cuốn của Ngài: Tiểu sử của Luangpu Mun, Paṭipadā và Gương soi của tâm/The Mind’s Glasses (Waen Duang Jai). Tôi chủ yếu đọc ba cuốn sách này và một cuốn sách khác, đó là bài Pháp thoại của Ngài bằng tiếng Anh trong chuyến đi của Luangta đến Luân đôn, Anh. Như vậy, tôi đã sử dụng những cuốn sách này và dành khoảng một tiếng mỗi ngày để nâng cao kiến thức của mình và vì vậy không cần phải làm phiền Ngài.
Tôi cũng không muốn dính líu đến bất cứ thứ gì hoặc bất kỳ ai vào thời điểm đó. Tôi thực sự thích được ở một mình. Tôi thích xử lý những ô nhiễm và tham ái của chính mình và giải quyết các vấn đề của riêng tôi. Vì vậy, tôi không quan tâm đến việc giao tiếp với bất kỳ ai, kể cả các vị sư.
Sau thời gian tu ở Wat Pa Baan Taad, Phra Ajahn Suchart trở lại Pattaya và trú tại Wat Bodhi Sampan, Chonburi trong một năm. Sau đó Phra Ajahn chuyển đến Wat Yansangwararam vào năm 1984 và trú ở đó cho đến nay.
Phra Ajahn Suchart được tấn phong một danh hiệu tu sĩ với chiếc quạt biểu tượng vào ngày 5 tháng 12 năm 1993. Phra Ajahn cũng được đề bạt làm Phó Trụ trì, phụ trách việc thực hành Giáo pháp của các nhà sư và trông coi đất đai và cơ sở của tu viện.
MỤC LỤC
1. Puthujjana Những con người bình thường: Những người đi xuôi dòng
2. Samaṇa Sa môn: Những người đi ngược dòng
3. Maraṇa-sati: Niệm tưởng về sự chết