Thư Viện Hoa Sen

Trí Tuệ Trong Phật Giáo

TRÍ TUỆ TRONG PHẬT GIÁO

Tuệ Thiện

buddha 09
Chữ Trí Tuệ của nhà Phật bao gồm 3 ý niệm : thông minh, hiểu biếtđạo đức. Sự thông minh không đòi hỏi phải thật cao; vì xét ra những vị thánh đệ tử Phật không phải tất cả đều cực thông minh, có vị học vài câu kệ mà cả tháng trời không thuộc. Nhưng những vị nầy có học hỏi , biết việc gì phải làm để cải thiện trí tuệ , nên Phật thường gọi họ là các vị Đa Văn (nghe nhiều, học rộng) và Phật cũng khuyến khích sự học hỏi như một phương tiện để đạt hạnh phúc (Kinh Hạnh Phúc). Sau cùng Đạo Đức dĩ nhiênmục tiêu để thực hành sự giải thoát.

Phật giáo đi thẳng vào phần ''vi sinh nhận thức''(microgénèse cognitive) bằng cách phân tích cấu tạo của Tâm, cách vận hành của tâm: đơn vị nhỏ nhứt của Tâm là một sátna-tâm được đo lường bằng 40 msec ; vì theo khoa học nhận thức, muốn cho một hình ảnh được nhìn thấy bởi ý thức thì hình ảnh đó phải hiện ra trước mắt là 200msec mà theo Vi Diệu Pháp Phật giáo thì trong khoảng thời gian đó đã xảy ra 5 sátna-tâm, như vậy: 1sátna-tâm= 200 : 5= 40msec. Mỗi sátna-tâm có một tên gọi, một nhiệm vụvận hành trong một diễn trình xảy ra theo một trật tự thứ lớp nhất định, gọi là lộ-trình tâm. Một lộ trình có từ 12 tới 17 chặp sátna-tâm liên tiếp. Nhiều lộ trình tiếp nối như thế theo một nhịp độ nào đó sẽ cho ra một chức năng của tâm-não như tri giác, hồi tưởng, suy nghĩ...Thí dụ muốn tri-giác (nhận diện, định danh) một đối tượng cần phảiít nhất là 5 lộ trình. Đó là sự vận-hành của dòng vi-nhận-thức (micro-cognition) làm việc trong tiềm thức. Ta chỉ biết kết quả của việc làm này khi một nhận thức được hình thành. Con người có tất cả 455 loại lộ trình tâm khác nhau tùy theo hoàn cảnh hoặc thời khoảng sống như lúc thức, lúc ngủ, lúc chiêm bao, lúc chết, lúc thiền, lúc đắc đạo...

Trí Tuệ nằm trong lảnh vực Tâm thức con người vậy chúng ta thử định nghĩa lại Tâm thức xem sao : Thức (Vinnana) chính là Tâm(Citta), là Ý (Mano) theo truyền thống của Phật giáo Nam Truyền, 3 chữ nầy đồng nghĩa với nhau và có thể phối hợp thành ba danh từ : Tâm thức, Ý thức, Tâm ý, nhưng tùy theo ngữ cảnh có thể được sử dụng khác nhau.

1- Về bản chất : thức bao gồm 2 ý nghĩa:

- Ý thức hay cửa ý là cánh cửa mở vào thế giới bên trong. Trong ý nghĩa nầy, ý thức tương đương với nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức.

- Trong ý nghĩa thứ hai thức bao gồm tất cả các loại tâm. Theo Vi Diệu Pháp có tất cả 89 tâm (hoặc 121 tâm tùy theo kể thêm những yếu tố chứng thiền trong các loại tâm siêu thế hay không).

2- Về ý nghĩa: Thức là thành phần tinh thần cấu tạo nên con người và được qui định bởi 4 sắc thái :

a-Sắc thái thuộc cảm tính (thọ, sensitivité) trong đó bao gồm cảm giác,tình cảm và cảm xúc. Cảm giác có 6 loại: đau, sướng, trung tính (thuộc thân), vui, buồn, xả (thuộc tâm). Không có tâm nào mà không biểu hiện qua 1 trong các loại cảm giác trên

Tình cảm thì có 3 loại: ưa thích/ghét bỏ/dững dưng xuất phát từ các cảm giác trên.

Cảm xúc thì có nhiều loại, chủ yếu có 5 loại chính: vui, buồn, sợ hãi, tức giận, lo âu.

b-Sắc thái thuộc tri giác (Tưởng, perception)

Tri giác là khả năng nhớ lại, hình dung, diễn dịch một hình ảnh, âm thanh, mùi vị, cảm giác xúc chạm hay một biểu tượng đã được biết từ trước. Tri giác, tây phương định nghĩa là sự diễn dịch một cảm giác thành ý nghĩa, tên gọi.

c-Sắc thái thuộc hành động (Hành, formations mentales)

Ý nghĩ, lời nói và hành động là kết quả của sự làm việc của tâm thức.

Đối với Phật Giáo, sắc thái hành động nầy rất quan trọng, khi tâm hành động với một ý định (intention) là nó đã tạo nghiệp; tùy theo ý định nầy thiện hay bất thiện thì sau đó quả sẽ trổ tốt hay xấu.

d-Sắc thái thuộc về nhận thức (Thức, conscience) chúng ta có:

  • Năm thức: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân. Năm thức nầy chỉ hoạt động khi có đối tượng xuất hiện từ thế giới bên ngoài.
  • Ý thức hoạt động khi có cảnh bên trong, hoặc bên ngoài với điều kiện là các tín hiệu phải vượt qua được ngưỡng cửa của sự Tỉnh thức để đi vào ý-thức-trường.
  • Tiềm thức (subconscient) đa số những việc làm của tâm đều không được hay biết, ta chỉ biết kết quả. Dựa trên lộ-trình tâm ta biết được 14 nhiệm vụ của tâm làm việc trong tiềm thức : sanh, tử, hộ kiếp, khán môn, tiếp thâu, quan sát, xác định, đổng tốc, ngũ-song-thức (5), mót.
  • Vô thức (inconscient) hoạt động khi không có cảnh, tâm phải tự tạo ra cảnh bằng cách lấy chất liệu từ dòng tâm Hữu Phần (A lại Da thức?) (từ những chủng tử lưu truyền từ tiền kiếp) hoặc tâm ở trong trạng thái hôn mê sâu (état végétatif).

Tâm lý học Phật giáo cho ta biết Tâm có nhiều khả năng bẩm sinh và thụ đắc do sự rèn luyện vì vậy nó làm đưọc rất nhiều việc :

1/- Nắm bắt những rung động, kích thích từ thế giới bên ngoài qua 5 cửa của giác quan và qua cửa ý từ thế giới bên trong.

2/- Ghi nhận những cảm giác của thân và của tâm : đau, sướng, vui, buồn, xả.

3/- Diễn dịchđịnh danh các cảm giác.

4/- Ghi nhớ, hồi tưởng, tuởng tượng, liên tưởng

5/- Hình thành ý định và uớc muốn.

6/- Định tâm trên một đối tượng đủ để hành xử với nó ; nếu không sẽ trở thành một bịnh lý (rối loạn tăng động giảm chú tâm =TDAH, trouble du déficit de l'attention avec hyperactivité)

7/- Khả năng hấp thụ năng lượng từ sự dinh dưỡng và từ môi trường bên ngoài để sinh hoạt.

8/- Buông xả, chuyển hướng đến một đối tượng khác.

9/- Dò tìm, chọn lựa, sàng lọc những thông tin, tín hiệu đến từ thế giới bên ngoài để hành động :

-một cách tự động không cần suy nghĩ do thói quen, phản xạ, xung động

-hoặc một cách có kiểm soát, đắn đo, suy nghĩ theo những tiêu chuẩn giá trị đạo đức, lý luận, thẩm mỹ…

10/- Tâm làm việc bằng 3 cách :

*Suy nghĩ, tính toán, phát minh, sáng tạo…

*Ngôn ngữ : diễn tả bằng lời nói, chữ viết, nét mặt và cử chỉ

*Điều khiển các cử động và công việc để hoàn thành ý định

11/- Tâm có khả năng thể hiện Đức tin, tình cảm và cảm xúc

12/- Tâm có khả năng nhận diện được chính mình và tư tưởng của mình

13/- Tâm tạo ra sắc pháp (tâm lý gia Hoa Kỳ Ekman đã phát hiện 60 nét mặt diễn tả sự sân hận ; Ngủ Tử Tư, Hoàng hậu Marie Antoinette bạc đầu sau một đêm Lo sợ, hãi hùng).

Chúng ta đã định nghĩa Tâm và đã sơ lược nói qua những việc làm của Tâm. Bây giờ chúng ta đi thẳng vào tiến trình xây dụng Trí Tuệ theo Phật giáo.

Trí khôn con người bắt đầu bằng sự Biết. Biết là sự tiếp nhận một tín hiệu, một thông tin đến từ thế giới bên ngoài hay bên trong nhờ các giác quan. Mỡ mắt chào đời chúng ta đã thấy cái vú của mẹ, đã nghe tiếng vỗ về của mẹ, đã ngửi mùi của mẹ, đã nếm vị béo ngọt của sửa mẹ, đã xúc chạm thân nồng ấm của mẹ. Từ đó chúng ta khám phá cái thế giới quanh mình qua 5 giác quan. Rồi lớn lên chúng ta tập quan sát bằng cả 5 giác quan này và khám phá ra rằng không phải chỉ có thế giới bên ngoài, mà có cả thế giới bên trong. Cái giúp chúng ta biết được thế giới bên trong chính là ý thức, một giác quan thứ 6. Như vậy chúng ta có 6 loại biết hay sáu Thức Tri : nhãn- , nhĩ- , tỷ- , thiệt- , thân- , ý-thức để biết 6 đối tượng : sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

Hiểu là bước thứ nhì. Hiểu là diễn dịch được ý nghĩa của một sự vật, một sự kiện, một bài viết, một con người hay cả chính mình. Muốn hiểu rõ phải qua trung gian của Tri giác (perception) và phải có Trí nhớ để ghi lại những gì học được lúc ban đầu. Có ba mức độ hiểu :

Ø Hiểu theo danh từ : nghĩa là hiểu theo nghĩa đen, từng chữ, từng câu, như cái hiểu của người thư ký đánh máy, thấy sao biết vậy để đánh máy cho trúng mà không cần hiểu ý nghĩa sâu xa, ngầm chứa bên trong.

Ø Hiểu theo sự diễn dịch của người nghe hay đọc. Cái hiểu này tùy thuộc trình độ văn hóahiểu biết của người đó, đôi khi nó không đúng với ý muốn diễn tả của người nói hay viết và có thể không đúng cả với sự thật nữa. Đây là cái hiểu của người thường hay của một học sinh trung học khi làm phân tích một bài văn.

Ø Hiểu sự vật đúng như nó là như vậy hay đúng với ý muốn diễn đạt của tác giả. Đây là cái hiểu của người làm phê bình văn học, phải đặt mình vào hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả khi viết bài văn này, biết hành trình tư tưởng của tác giả, biết ý muốn đàng sau những câu viết và đồng thời phải biết sự thật khách quan của vấn đề.

Bước thứ Ba là Trí Văn: ngày xưa vào thời Đức Phật chưa có sách vở, nên người ta phải tìm đến nghe Phật hay chư Thánh tăng thuyết giảng. Ngày nay chúng ta có đầy đủ phương tiện để học hỏi : bậc thiện trí, sách vở, băng nghe, băng hình, truyền thanh, truyền hình, mạng internet, Thông minh nhân tạo. Kết quả là người ta có được một sự Hiểu biết căn bản, theo chiều rộng. Phật giáo thật là mênh mông như biển cả, như rừng già ; chúng ta phải biết chọn lựa những chiếc lá trong nắm tay mà Đức Phật đã đưa cho chúng ta. Mỗi cá nhân tùy theo sở thích, khả năng, điều kiện có thể chú tâm nghiên cứu 4 lãnh vực sau đây của Phật Giáo:

-kiến thức tổng quát về Phật Giáo ;

-kiến thức thực hành về Phật Giáo ;

-kiến thức chuyên sâu về Phật Giáo ;

-kiến thức mà mình thích nghiên cứu về Phật Giáo.

Bước thứ Tư là Trí Tư: sự hiểu biết sâu rộng nhờ học hỏi, suy nghĩ, phân tích, tổng hợp, phản biện. Trong sự học hỏi, PG đưa ra bốn mức độ thâm nhập gọi là Tứ Vô Ngại Giải hay còn gọi Tứ Vô Ngại Trí (Patisambhidà*, bốn trí tuệ phân tích)

A- Từ vô-ngại-giải (Nirutti -*-) là sự hiểu biết thông suốt không ngăn ngại về ngôn ngữ và có thể diễn đạt, giảng giải nó một cách dễ dàng. Mỗi sự vật, mỗi ý niệm được chỉ định bằng một danh từ. Mỗi danh từ mang một ý nghĩa, lắm khi một danh từ mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Do đó ngộ nhận thường xãy ra khi hai người sử dụng một danh từ nhưng không cùng hiểu một ý nghĩa. Cùng một chữ Bồ tát, người thì nói chưa thành đạo, kẻ thì hiểu Phật đã thành. Cho nên mỗi danh từ cần phải được định nghĩa một cách rõ ràng và được qui định bằng những bản chất, tướng trạng, phận sự, nguyên nhân trục tiếp. Phật giáo đưa ra 4 yếu tố để định nghĩa một danh từ :

-Thể: bản thể, bản chất của sự vật

-Tướng: hình tướng, những đặc tính biểu hiện

-Dụng: phận sự, công dụng, dùng để làm gì?

-Nhân gần: nguyên nhân trực tiếp sinh ra sự vật

Thí dụ : *định nghĩa Tâm: là một thành phần vô hình cấu tạo nên con người, biểu hiện qua những trạng thái vui sướng, buồn đau, hay thản nhiên, có phận sự nhận biết, sanh khởi khi có cảnh.

B- Nghĩa vô-ngại-giải (attha-*-):

Nghĩa ở đây không phải là định nghĩa các danh từ nữa mà là ý nghĩa các pháp sau khi đã phân tích chúng. Từ-vô-ngại-giải giúp ta phân biệt pháp này với pháp khác còn Nghĩa-vô-ngại-giải giúp ta hiểu rõ thành phần phức hợp của chúng; vì trong PG một danh từ, một ý niệm bao gồm nhiều yếu tố bổ túc nhau. Ví dụ: Tứ Diệu Đế bao gồm Khổ, Tập, Diệt, Đạo/ Tứ Niệm Xứ gồm có Thân, Thọ, Tâm, Pháp/ Tinh tấn gồm có ngăn ngừa, diệt trừ, thực hành, duy trì.

Phải hiểu hết các thành tố mới hiểu rõ được ý niệm tập hợp. Trong PG không có một ý niệm nào mà không được giải thích một cách rõ ràng: chẳng hạn nói về Giới Sát Sanh là một trong 5 giới, được biết dịch từ chữ Pàli Pànàtipàtà. Pànà nghĩa là chúng sanh, loài có thức tánh, có mạng căn; Atipàtà nghĩa là sát hại; Sát Sanh là giết hại, tiêu diệt sự sống của một sinh vật có thức tánh. Đó là phần định nghĩa thuộc Từ-vô-ngại-giải, Nghĩa-vô-ngại-giải phân tích giới sát sanh ra làm 5 chi:

1/- Chúng sanh có thức tánh (Pàno), ăn một con vật đã chết không bị phạm giới.

2/- Biết chúng sanh có thức tánh (Pànasannito), người giết biết rõ con vật ấy có tâm thức.

3/- Cố ý giết (vadhakacittam), có ý định, chủ tâm giết; nếu vô tình,vô ý thì không phạm giới.

4/- Ra sức giết (upakkamo), là thực hiện ý muốn giết bằng hành động

5/- Có một sinh vật đã bị chết (Toramaranam) do hành động cố ý giết hại ấy.

Nếu hội đủ 5 điều kiện kể trên thì giới sát sanh đã bị phạm.

Người tu là người cố gắng ngăn chận một tà tâm hay ác ý khi nó vừa chớm nở trong ý tưởng, không để cho nó đủ thời gian để phát tác thành hành động. Thanh lọc tâm vẫn là một công trình quan trọng hàng đầu của một phật tử.

C- Biện vô-ngại-giải (Patibhàna-*-): là khả năng hiểu biết về những nguyên nhânhậu quả của các pháp hay sự tương quan nhân quả giữa 2 pháp. Một nhà hùng biện dù có biện tài đến đâu mà không hiểu rõ nguyên nhânhậu quả của sự kiện thì những lý luận của ông chỉ là ngụy biện. Trong thế giới khoa học hiện đại, sự thiết lập tương quan nhân quả giữa hai sự kiện vẫn là một vấn đề khó khăn: B xuất hiện sau A, nhưng chưa chắc B đã là hậu quả và A là nguyên nhân. Rất ít khi người ta khám phá được mối tương quan trực tiếp giữa A và B bởi vì xung quanh chúng còn có những yếu tố phụ trợ hay ngăn trở. Khi biết rõ những yếu tố nầy, người ta mới qui định được tương quan nhân quả giữa 2 sự kiện.

Con người sở dĩ vẫn bị trầm luân khổ ải chỉ vì không biết rõ hậu quả hành động mình đã làm. Nếu chúng ta biết được vì sao ngày hôm nay chúng ta phải bị cảnh sự nghiệp tiêu tan, gia đình ly tán, vì sao có người bị đau đớn rên siết trên giường bịnh, có trẻ em sinh ra đã bị khiếm thị hay cụt tay thì có lẽ trước kia chúng ta đã tránh được nhiều hành động không nên làm. Nếu trong một tiền kiếp đại đức Mục Kiền Liên biết được rằng trong kiếp chót, mặc dầu đã đắc quả A-La-Hán, ông phải bị chết vì đâm chém một cách thê thảm, có lẽ lúc đó ông đã không đẩy cha mẹ vào rừng để bỏ đói.

Phật giáo đã đưa ra hai nguyên lý Duyên SinhDuyên Hệ để giúp ta thấu hiểu tương quan nhân quả giữa 2 sự kiện

1- Duyên Sinh hay thuyết “Thập Nhị Nhân Duyên” nói về 12 yếu tố chủ yếu cần thiết liên quan Nhân, Quả với nhau để hoàn thành diễn trình sinh tử, tử sinh của chúng sanh trong vòng luân hồi. Nguyên lý nầy có thể được phát biểu như sau :

“Khi cái nầy , cái kia

Khi cái nầy không có, cái kia không có

Thập Nhị Nhân Duyên là 12 khoen xích trói chặt con người trong vòng sanh tử luân hồi : Vô Minh => Hành => Thức => DanhSắc => Lục Nhập => Xúc => Thọ =>Ái => Thủ => Hữu => Sanh => Lão Tử ( => Vô Minh…).

2- Duyên Hệ là nguyên lý đề cập một cách rốt ráo chi tiết giữa hai yếu tố có thể là vật chất hay tinh thần, khái niệm hay chân đế (réalité); đồng thời còn cho biết đặc tính của sự liên hệ giữa hai yếu tố : không gian, thời gian, tương sinh, tương khắc, hổ tương, sức mạnh, tương đồng, tương phản, có mặt, vắng mặt, lập lại, nhân quả…

Có tất cả 24 điều kiện, có thể được phát biểu một cách tổng quát như sau :

Khi cái nầy , cái kia không có

Khi cái nầy không có, cái kia

Cái sinh sau trợ duyên cho cái sinh trước (hoặc ngược lại)

Cái yếu trợ duyên cho cái mạnh (hoặc ngược lại)

Nguyên lý Duyên Sinh và Duyên Hệ đưa ra những điều kiện chánh yếu và phụ thuộc để đưa tới một kết quả (những điều kiện cần và đủ). Cũng như khi nấu cơm, chúng ta phải kể hết những yếu tố : gạo, nước, nồi, lửa… Nếu người nông dân không sản xuất gạo thì tất cả những yếu tố khác đều vô ích. Nguyên lý Duyên Sinh cốt cho thấy cái yếu tố căn bản ở đây là gạo. Còn nguyên lý Duyên Hệ bổ túc các yếu tố phụ còn lại.

Trong đời sống thường nhật, chúng ta dùng 24 Duyên Hệ để luận giải về tính cách liên hệ giữa 2 sự vật hay hiện tượng như sau:

-liên hệ về không gian : có Cảnh Duyên (2), Cảnh Cận-Y duyên(9)

-liên hệ về thời gian : có Đồng Sinh Duyên (6), Tiền Sinh Duyên (10), Hậu Sinh Duyên (11), Vô Gián Duyên(4), Đẳng Vô Gián Duyên(5)

-liên hệ về tính cách tương sinh : có tính cách tương sinh : có Thực Duyên (15), Y Chỉ Duyên (8), Cận Y duyên (9).

-liên hệ về tính cách tương khắc : Thiền Duyên (17)

-liên hệ về tính cách quan trọng : Trưởng Duyên (3)

-liên hệ về tính cách chuyên biệt : Quyền Duyên (16)

-liên hệ về tính cách hổtương : HổTương Duyên (7)

-liên hệ về tính cách tương đồng : Tương Ưng Duyên (19)

-liên hệ về tính cách tương phản : Bất Hợp Duyên (20)

-liên hệ về tính cách có mặt : Hiện Hữu Duyên (21)

-liên hệ về tính cách vắng mặt : Vô Hiện Hữu Duyên (22)

-liên hệ về không xa lìa : Bất Ly Duyên (24)

-liên hệ về sự lập lại : Tập Hành Duyên (12)

-liên hệ về Nhân, Nghiệp, Quả: Nhân Duyên (1), Nghiệp Duyên (13), QuảDuyên (14)

-liên hệ về phương tiệncon đường : Đạo Duyên (18)

Chúng ta thấy thiếu Duyên thứ 23 là Ly Khứ Duyên, vì Duyên này đồng nghĩa với Duyên 22 là Vô Hiện Hữu Duyên (= vắng mặt).Tổng cộng có tất cả24 Duyên.

D- Pháp vô-ngại-giải (Dhamma -*-):

Chữ Dhamma có nhiều ý nghĩa, trước hết là những điều giảng dạy của đức Phật, khi đó Pháp được viết bằng chữ P hoa/ Sau đó pháp là tất cả những gì là đối tượng của tâm (điều nầy được hiểu trong thiền)/ một sự vật, sự kiện, ý niệm/ một hiện tượng vật lý hay tinh thần/ một nguyên tắc, phương pháp, định luật. Pháp vô-ngại-giải chính là sự phân loại các pháp.

Phân loại là công việc thường xuyên của các triết gia và khoa học gia, PG đã đi trước khoa học hơn 2000 năm, nhất là trong phạm vi tâm lý học.

Phật giáo phân loại các pháp làm 2: Tục đếChân đế.

*Tục đế (réalité conventionnelle) là những thực tại thông thường của thế gian được nhận biết qua 6 giác quan: mắt tai mũi lưỡi thân ý; chúng được gọi tên tùy theo sự mô tả hình tướng hay theo ý nghĩa của sự vật do một cộng đồng nhân loại có cùng một ngôn ngữ đặt ra.

*Chân đế (réalité ultime) là những yếu tố vật chất (sắc) hay tâm lý (danh) gọi chung là chân đế hữu vi để phân biệt với Niết Bànchân đế vô vi,chỉ có một thôi. Gọi là chân đế vì chúng không thể phân chia, vì khi phân tách chúng không còn là chính nó, như một nguyên tố oxy, hydro, nitro...Chân đế hữu vi gồm có: 121 tâm, 52 tâm sở và 28 sắc pháp.Đó là sự phân tích về cấu tạo của con người.

Tạng Kinh phân loại các pháp theo Tục đế và theo 11 phạm trù: quá khứ, hiện tại, vị lai/ bên trong, bên ngoài/ thô, tế/ liệt, thắng/ xa, gần.

Ví dụ: phân loại Thức:

- Thức quá khứ, hiện tại, vị lai :

* Thức quá khứ : thức của một kiếp sống trước hoặc của một thời đã qua.

* Thức hiện tại : thức của kiếp sống nầy hoặc của thời hiện tại.

* Thức vị lai : thức của kiếp sống sau hoặc của một thời sắp tới.

- Thức Nội và Ngoại :

* Thức Nội khi không có cảnh bên ngoài (tâm chủ quan như tâm Hộ Kiếp, Alaida thức).

* Thức Ngoại : thức khi có cảnh bên ngoài (tâm khách quan : như nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức)

- Thức Thô và Tế :

* Thức Thô là tâm không có thiền hoặc tâm Dục giới.

* Thức Tế : là tâm có thiền,hoặc tâm Sắc giới và tâm Vô Sắc giới.

- Thức Liệt và Thắng :

* Thức Liệt : là tâm bất thiện

*Thức Thắng : là tâm thiện Dục giới và các tâm Siêu thế

-Thức Xa và Gần : là tùy theo đối với thời gian hiện tại hoặc không gian ở đây

Nói tóm lại Tứ Vô Ngại Trí là sự hiểu biết bách khoa (encyclopédique) về các pháp. Kết quả là chúng ta có được TRÍ TƯ, một tư duy phản biện vừa phân tích vừa tổng hợp về 1 sự vật hay sự kiện.

Bước thứ năm là Trí Tu: cũng giống như các nhà khoa học, sau khi đã học hỏi, nghiên cứu lý thuyết về một vấn đề, sẽ đưa ra một giả thuyết để đem vào phòng thí nghiệm kiểm chứng. Nhà tu hành Phật giáo sẽ dùng phòng thí nghiệm tâm linh để thực hành Thiền QUÁN ; Trong bài kinh TỨ NIỆM XỨ, Đức Phật có nêu lên thời gian có thể chứng quả cho những ai cố gắng tích cực hành thiền đứng đắn tối thiểubảy ngày cho đến tối đa là bảy năm tùy theo phước báu Ba-la-mật của mỗi người. Con đường thực hành bao gồm bảy giai đoạn: Tứ Niệm xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngủ Căn, Ngủ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo. Tất cả tổng cộng là 37 Pháp Trợ Đạo.

-Tứ Niệm Xứ: là 4 đề mục để quan sát trong khi thiền : Thân, Thọ, Tâm, Pháp

-Tứ Chánh Cần: là 4 sự cố gắng,tinh tấn: ngừa, trừ (điều ác), hành, trì (điều thiện)

-Tứ Như Ý Túc: là 4 căn đế của sự thành công: giục, cần, tâm, thẫm

-Ngũ Quyền: là 5 khả năng tinh thần, Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ

-Ngũ Lực: là 5 sức mạnh, Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực, Tuệ lực

-Thất Giác Chi: 7 yếu tố giác ngộ, Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỉ, An, Định, Xả.

-Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, Chánh Tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng

Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

Sau khi trải nghiệm những giai đoạn tu tập này, người phật tử có thể chứng đắc Tuệ giác của các bậc Thánh và tiêu hủy những phiền não lậu-hoặc, phá tan màn vô minh tùy theo mức độ chứng ngộ một trong bốn thánh quả của đạo Phật: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Kết quả là hành giả đạt được Trí Tu và đã diệt được 10 kiết sử: Thân kiến, Hoài nghi, Giới Cấm thủ, Tham, Sân, Sắc ái, Vô-sắc ái, Ngã mạn, Trạo cử, Vô minh.

Bước thứ sáu là Liễu Tri hay Trí Tuệ của bậc Toàn Giác : Đối với những vị Bồ Tátchí nguyện chứng quả Chánh Đẳng Giác thì phải nguyện trong tâm ước muốn giải thoát của mình, rồi phát biểu ra lời nói và phải thực hành mười Pháp Ba-la-Mật trong một thời gian ít nhất là 20 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại Kiếp như Đức Phật Thích Ca đã trải qua cũng như chư Phật Chánh Đẳng Giác khác ở quả địa cầu này, khi chứng ngộ Chư vị sẽ có được Trí Tuệ TOÀN GIÁC bao gồm cả thần thông, trí tuệ phân tách, và 2 loại Trí tuệ đặc biệt :

-Trí tuệ thấu rõ căn duyên cao thấp của mỗi chúng sinh,

-Trí tuệ thấu rõ phiền não ngấm ngầm, thiện nghiệp, ác nghiệp của mỗi chúng sinh

Chúng ta có thể tóm tắt con đường rèn luyện Trí Tuệ qua sơ đồ sau đây:

Biết →Hiểu →Học hỏi+ghi nhớ (Trí Văn) →Suy nghĩ (Trí Tư) →Thực hành (Trí Tu)


KẾT LUẬN

Người khôn ngoan là người biết nhận diện đúng những gì cảm nhận được qua 5 giác quan xảy ra từ thế giới bên ngoài và qua ý thức từ thế giới bên trong, biết diễn tả sự vật đúng như nó là như vậy nhờ có trí nhớ tốt và không nhầm lẫn bởi những ảo kiến, ảo tưởng. Người nầy biết chế ngự những cảm xúc tiêu cực như nóng giận, sợ hãi, buồn rầu, lo âucố gắng thay thế chúng bằng những tình cảm vị tha, cao thượng: từ, bi, hỉ, xả.

Người nầy biết học hỏi để cải thiện đời sống, để thăng hoa tâm hồn và giúp đời. Họ không bị dính mắc trong những thú vui tầm thường, hay những thói quen độc hại. Họ vượt thoát được sự chi phối của bản ngã để xa lìa sự ích kỷtham lam. Nhất là họ có những tư tưởng chân chánh, lời nói chân chánh có thể dẫn đến những hành động thiện lành.

Thông minh là biết sử dụng đúng phương tiện để đạt tới mục đíchmục đích của Phật Giáo không ra ngoài bốn sắc thái :

*/ giải thoát khỏi những phiền muộn khổ đau

*/ khỏi những dính mắc, tham ái

*/ khỏi những quan kiến sai lầm

*/ khỏi sanh tử luân hồi

Thông minh cũng là biết thay đổi phương cách để thích ứng với hoàn cảnh,

phương cách giản dị, khôn ngoan, làm lợi cho mình, cho người, không làm hại cho môi sinh và cho các thế hệ mai sau.

lý tưởng quá chăng một con người như vậy? Nhưng lý tưởng luôn luôn vẫn là cái gì để chúng ta hướng tới và không phải hoàn toàn không làm được.

Tuệ Thiện

Paris 19/04/2026