11
“NGŨ UẨN GIAI KHÔNG” LÀ GÌ?
I. DẪN NHẬP:
Là thiền sinh Phật tử, chúng ta rất quen thuộc bài kinh “Bát Nhã Tâm Kinh”. Mở đầu là câu: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba-la-mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”. Câu kinh này được giải thích là đức Tự Tại Bồ Tát đã qua thời gian hành trì thâm sâu và mở được con mắt tuệ, còn gọi là trí tuệ Bát nhã. Đây là trí tuệ của bậc giác ngộ đến bờ giải thoát. Với trí tuệ tâm linh siêu vượt này, Bồ-tát soi chiếu thấy thân tâm “đều không”, nên vượt qua tất cả mọi khổ ách! Chủ đề hôm nay là tìm hiểu về “Ngũ uẩn giai không” nên trước hết chúng ta cần biết Ngũ uẩn là gì? Ngũ uẩn liên hệ như thế nào đối với thân tâm của chúng ta? Rồi sau đó mới tìm hiểu tại sao “Ngũ uẩn lại giai không”?
II. NGŨ UẨN LÀ GÌ?
Ngũ là năm. Uẩn có nhiều nghĩa, như: chắc chắn, nhóm, thành phần hay yếu tố. Trong bài này chúng ta có thể hiểu nhiều yếu tố họp lại nên gọi là uẩn. Kinh “Vô Ngã Tướng”, Phật dạy rằng: Con người kết hợp bởi hai phần: Vật chất là Sắc, và tinh thần là Danh. Danh và Sắc do nhiều yếu tố hợp lại mà thành.
- Sắc: Do đất, nước, gió, lửa hợp lại gọi là Sắc uẩn. Ở đây Sắc uẩn chỉ cho con người gồm nội tạng và 6 căn: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý thức gọi là 6 nội xứ. Sáu nội xứ nằm trên thân mình. Đối tượng của 6 nội xứ là: Sắc (hình dáng), thanh, hương, vị, xúc, pháp gọi là 6 ngoại xứ. Sáu nội xứ của mình lại là 6 ngoại xứ của người đối diện. Để ý thêm một chút thì nội xứ này, trở thành ngoại xứ của nội xứ kia.
Thí dụ: Con mắt là nội xứ của mình. Khi con mắt nhìn xuống bàn tay. Bàn tay tức nội xứ thân, trở thành ngoại xứ của nội xứ mắt.
Khi 6 nội xứ tiếp xúc 6 ngoại xứ hình thành 6 nhận thức, phân biệt. Đó là Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức. Gọi chung là 18 giới.
- Tâm thì có: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Mỗi yếu tố này cũng do nhiều thành phần hợp lại nên gọi là Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn và Thức Uẩn.
- Thọ uẩn: Là những cảm giác của thân hay, cảm thọ của tâm có ba loại: (1) Thọ Lạc: Thích thú hay hạnh phúc. (2) Thọ khổ: Không thích hay phiền não. (3) Thọ trung tín: Cảm thọ không thương cũng không ghét, an nhiên hay thọ xả.
- Tưởng uẩn: Có nhiều mạng lưới tưởng như: mạng lưới ý nghĩ, mạng lưới biết có lời hay không lời, mạng lưới liên tưởng và ấn tượng ghi sâu vào tâm thức v. v… Tưởng ở đây có công dụng ghi nhận hình ảnh đối tượng hiện tại, hoặc nhớ nghĩ chuyện quá khứ hay tưởng tượng chuyện tương lai.
- Hành uẩn: Là uẩn thứ hai trong Thập Nhị Nhân Duyên. Hành uẩn cũng là uẩn thứ tư trong ngũ uẩn. Hành uẩn trong ngũ uẩn là phản ứng của Tâm còn gọi là Tâm sở. Trong kinh ghi rằng Hành có 50 tâm sở, còn hai tâm sở nữa là Thọ và Tưởng. Trong 50 tâm sở, quan trọng nhất tác ý (cetanã). Tác ý chủ động điều hành tập hợp các tâm sở tương ứng tạo nên Ý nghiệp. Ý nghiệp dẫn đầu, thân và khẩu nghiệp theo sau.
- Thức uẩn: Thức được xem là sự hiểu biết của con người. Là cái biết so sánh, phân biệt tốt xấu, phải quấy hai bên, gọi là tâm nhị nguyên. Thông thường Thức có tính quyết định nói ra lời và hành động tùy theo tâm Hành, tạo nên khẩu và thân nghiệp.
Thân người hay Sắc, thì ta có thể trông thấy sờ mó được. Còn Danh hay Tâm thì trừu tượng không hình tướng, nhưng Tâm là một tiến trình được hình thành dựa trên cơ chế ngũ uẩn trong thân xác con người. Tâm “biết” suy nghĩ, vui, buồn, giận hờn, yêu thích. Tâm trạng của Tâm được biểu lộ qua ánh mắt, đôi môi, âm thanh và tứ chi giúp người đối diện nhận ra sự có mặt của Tâm.
III. TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP “NGŨ UẨN SINH DIỆT”
Sự thành lập ngũ uẩn bắt đầu từ các giác quan của thân như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, trong kinh gọi là sáu nội xứ hay sáu căn. Khi giác quan tiếp xúc đối tượng ngoại trần là hình dáng, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sẽ sinh một loạt tín hiệu tác động vào Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Tín hiệu đó, như một làn điện xẹt rất nhanh vào tâm con người và ngay sau đó Thức phản ứng, nói ra lời hay hành động, hoặc đè nén giữ lại trong tâm sự thích thú hay sự bất mãn.
Dù phản ứng như thế nào đi nữa, thì ngũ uẩn cũng đã được thành lập, và ngũ uẩn này được xem như là “ngũ uẩn sinh diệt” còn gọi là “Ngũ uẩn luân hồi sinh tử”. Thí dụ về một tiến trình thành lập ngũ uẩn như sau:
“Vào một buổi sáng sớm, mình nhìn thấy ly cà phê bốc khói, hương thơm ngào ngạt, trong đầu tác ý muốn uống. Khi các căn: mắt, mũi, lưỡi, tay (tiếp) xúc với đối tượng là ly cà phê, thì lần lượt Thọ, Tưởng, Hành, Thức, tức ngũ uẩn có mặt.
“Tay nâng ly cà phê thấy nặng hay nóng, cảm thấy khó chịu là Thọ đã có mặt. Khi uống vài ngụm cà phê, lưỡi cảm thấy mùi vị đặc trưng của cà phê ngọt-béo-đắng. Mũi ngửi mùi thơm, mình cảm thấy vừa ý, thích thú, khoan khoái, đó là cảm giác “vui thích” tức “tham vi tế ”đã có mặt.
“Tín hiệu thích mùi vị của cà phê từ Thọ tác động qua mạng lưới Tưởng. Tưởng thành lập hình ảnh ly cà phê trong đầu, tiếp theo là mạng lưới liên tưởng đến một loạt hình ảnh về những ly cà phê đã có lần thưởng thức trong quá khứ và mong muốn tiếp tục uống cà phê ngon trong tương lai….
“ Tín hiệu từ Tưởng chuyền sang Hành. Tại đây Hành hoạt động, do thích hay không thích mà phản ứng thành “Tâm tham” hay “Tâm sân”.
“Sau cùng tín hiệu tác động qua Thức. Thức là cơ chế nhận thức (biết), phân biệt. Rất nhanh chóng tùy theo phản ứng của Hành, mà Thức quyết định nói ra lời hay có hành vi thích hợp.”
Tiến trình này khởi ra khi các căn (mắt, tay, mũi, lưỡi) thuộc Sắc, tiếp xúc với trần cảnh (ly cà phê). Ngay khi đó Thọ, Tưởng, Hành, Thức có mặt. Như vậy, toàn bộ Ngũ uẩn có mặt. Kể ra thì dài, nhưng thực sự tiến trình này xảy ra chỉ trong tích tắc. Một ngày, không biết bao nhiêu lần các căn tiếp xúc cảnh trần tác động vào tâm khiến Thọ, Tưởng, Hành, Thức luôn dao động, sinh khởi, rồi lập tức diệt mất. Do vậy mà chúng cũng có ba đặc tính chung là “vô thường, khổ, vô ngã”.
Trên đây là tiến trình thành lập “ngũ uẩn sinh diệt” của người phàm phu chưa biết tu tập. Tâm của người này luôn dao động bởi tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Do sống trong Vọng Tâm, có khi tạo nghiệp lành, cũng có khi tạo nghiệp dữ, nên khi thân hoại mạng chung không thể thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử!
“NGŨ UẨN GIAI KHÔNG” LÀ GÌ?
Đọc kinh, chúng ta nhớ lời Phật dạy: “Các hành đều vô thường” hay “tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, vô ngã”. Ngũ uẩn hay con người cũng là pháp hữu vi do nhiều điều kiện hợp lại mà thành, nên Ngũ uẩn cũng vô ngã.
Vậy Vô ngã là gì? Vô ngã đồng nghĩa với vô chủ, là những pháp không vững chắc, không trường tồn vĩnh cửu bất biến. Khác với Vô ngã, Ngã là chủ tể, là vững bền mãi với thời gian, là thường hằng. Rất tiếc Ngũ uẩn không thường hằng nên Ngũ uẩn vô ngã!
Tư duy lời Phật dạy, chúng ta thấy những điều Ngài thuyết giảng vô cùng chính xác. Tất cả mọi vật trên đời đều do nhiều nhân nhiều duyên hợp lại mà thành. Khi duyên tan rả thì vạn vật cũng từ duyên mà biến mất. Con người hay ngũ uẩn do nhiều yếu tố hợp lại mà thành. Tất cả các yếu tố thành lập nên ngũ uẩn không có yếu tố nào bền vững, nên ngũ uẩn cũng vô thường vô ngã rỗng không. Khi nhận ra ngũ uẩn không phải “là ngã, là ta, của ta” thì lấy gì đau khổ? Cho nên kinh ghi: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”.
Với trí huệ Bát nhã, Bồ tát đã nhận ra Tánh Không của Ngũ uẩn, tức không có một thực thể cố định nào hết từ Ngũ uẩn. Không có thực thể cố định thì “Ngũ uẩn có” chỉ là “giả có”, gọi là giả vì “có mà tạm bợ” chứ không trường tồn nên không phải “thật có”.
“Giả có” mà mình cho là “thật có” thì đó là mình mê lầm. Nhưng “giả có” mà nói “Không có”, thì không đúng với sự thật trước mắt. Vì vậy không thể khẳng định là Không, cũng không thể khẳng định là Có.
Khi đã ngộ ra rằng thân ngũ uẩn không thật (nhân vô ngã) và lời nói khen chê của ai đó cũng không thật (pháp vô ngã). Chẳng qua chỉ tạm bợ hư dối! Bản thân hư giả, người đối diện hư giả, lời nói hư giả, cái khổ sở hay hạnh phúc nếu có, cũng là hư giả... Không dính mắc, thì thoát khỏi tất cả mọi khổ ách.
Tóm lại “Ngũ uẩn giai không” trong lời dạy này của đức Phật, là khi giác quan tiếp xúc với đối tượng, tâm hành giả biết nhưng không phản ứng thích thú hay chán ghét, tâm không nói thầm về đối tượng, thì Tánh biết có mặt. Tánh biết là cái biết rõ ràng lặng lẽ, trong sáng, khách quan, là cái lóe sáng đầu tiên của Tánh giác. Lúc bấy giờ toàn bộ ngũ uẩn yên lặng, không có cái Ta, cái của Ta hay Tự ngã của Ta trong đó, hành giả thoát khỏi mọi lậu hoặc, khổ đau.
“Ngũ uẩn yên lặng” là “ngũ uẩn giai không” còn như tâm dao động là có mặt “ngũ uẩn sanh diệt”. Khi hiểu thấu được muôn vật hay chính bản thân mình đều là “duyên hợp”, “không thực chất tính” nên “Ngũ uẩn có mà cũng như không có” gọi là “Ngũ uẩn giai không” . Thấu hiểu được như vậy thì khổ ách nào cũng qua hết!
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Ngày 30/7/2023, Sinh hoạt trên On line
với hai đạo tràng Thiền Tánh Không Sacramento và San Jose CA).