22
Quán đề mục “THẤT GIÁC CHI”
trong kinh TỨ NIỆM XỨ
I. DẪN NHẬP
Cốt lõi của sự thực hành thiền Tứ Niệm Xứ là xây dựng Chánh Niệm trên bốn lãnh vực Thân, Thọ,Tâm, Pháp. Đây là phép rèn luyện kỷ năng chú tâm liên tục những gì xảy ra trên Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Mỗi lãnh vực có nhiều đề mục để quán. Riêng về phần quán Pháp, có năm đề mục để quán là: Năm Triền Cái, Ngũ uẩn, Sáu Nội-Ngoại Xứ, Thất giác chi và Tứ Thánh đế. Bài viết này chúng ta đặt trọng tâm vào đề mục quán Thất giác chi, theo hướng dẫn trong kinh “Tứ Niệm Xứ”. Trước khi đi vào phần thực tập, chúng ta cần thông qua đề tài “Thất giác chi” trong 37 phẩm trợ đạo là gì?
II. Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢY GIÁC CHI
Thất giác chi bao gồm bảy yếu tố tu tập đưa đến giác ngộ giải thoát. Đó là: Niệm giác chi, Trạch Pháp giác chi, Tinh Tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi và Xả giác chi. Mỗi giác chi có một vai trò quan trọng của riêng nó, chẳng hạn như việc phát triển trí tuệ, duy trì động lực thực hành, giúp tâm an tịnh, hỷ lạc, khinh an, đó là vai trò của Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi và Tinh tấn giác chi... đến việc cân bằng tâm thức không còn dính mắc với bất cứ điều gì là vai trò của Định giác chi và Xả giác chi. Nếu thiếu một giác chi, con đường tu tập sẽ mất sự quân bình khó đi đến giác ngộ.
1) Niệm giác chi : Niệm tiếng Pali là “sati”. Sati có nhiều nghĩa, tùy theo ngữ cảnh, chúng ta có thể hiểu niệm là: ghi nhớ, ghi nhận, quán sát, soi sáng, nhận diện, tỉnh thức, thấy biết, nghe biết, xúc chạm biết v.v...
Giác là biết rõ một cách sáng suốt. Niệm giác chi có nghĩa là sự tỉnh giác, có khả năng quan sát, soi sáng thực tại một cách khách quan, thấy biết rõ ràng mọi thứ đang diễn ra trong thân và tâm. Niệm giác chi là cái biết trực tiếp như thật về đối tượng ngay bây giờ và tại đây. Cái biết đang là này giúp cho tâm hành giả không bị lôi cuốn theo cảm xúc hiện tại, hay suy nghĩ về quá khứ, hoặc tưởng tượng ở tương lai. Vì thế, Niệm giác chi ở đây cũng chính là Chánh Niệm trong Bát Chánh đạo, là Niệm căn, Niệm lực trong Ngũ căn, Ngũ lực...
Về cách thực hành thì hành giả có thể tu tập trong mọi tư thế: Đi, đứng, nằm, ngồi trong tất cả mọi hành động hằng ngày... Tuy nhiên tư thế tọa thiền là tư thế thực hành quan trọng nhất, vì nó giúp cho hành giả dễ dàng rèn luyện sự chú tâm liên tục. Từ đó có thể phát triển thói quen luôn nhớ chánh niệm trong các sinh hoạt đời sống hằng ngày.
2) Trạch pháp giác chi: Trạch là quan sát, chọn lựa. Ý nghĩa thông thường là sự phân biệt rõ ràng giữa thiện và ác, thánh và phàm, tích cực và tiêu cực... Trong vấn đề thực tập thiền, thì Niệm giác chi là năng lực quan sát pháp như thế nào biết như thế đó, nghĩa là không can thiệp vào pháp. Còn Trạch pháp giác chi cũng là sự quán chiếu, nhưng có khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu, đưa ra những lựa chọn sáng suốt và phù hợp với chân lý, tương ưng với Chánh kiến, Chánh Tư duy trong Bát chánh đạo. Nhờ nắm vững yếu tố Trạch pháp, hành giả yên tâm hành trì từng bước trên lộ trình tâm linh của mình, không còn mơ hồ lo sợ đi sai đường.
3) Tinh tấn giác chi: Tinh tấn là sự kiên trì, nỗ lực, siêng năng không ngừng nghỉ trong việc tu tập, vượt qua khó khăn và thử thách, trái ngược với lười biếng. Tinh tấn giác chi giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành giả kiên trì trên con đường tu tập. Nhưng không có nghĩa là ráng sức một cách quá mức khiến thân thể đi đến kiệt quệ. Ai cũng biết trên đường dài tu tập, có lúc hành giả cảm thấy phấn khởi, thích thú, nhưng cũng có lúc gặp chướng ngại khiến tâm hành giả lo âu, chán nản. Nếu không có tinh tấn, tâm hành giả dễ rơi vào sự trì trệ, lười biếng.
4) Hỷ giác chi: Khi hành giả siêng năng thực hành đúng pháp, không còn bị vọng tưởng quấy rối, nhận thấy có sự tiến bộ và lợi ích của việc tu tập nên hành giả cảm thấy hoan hỷ. Đó là trạng thái lạc thọ, là Hỷ giác chi. Tuy nhiên, hành giả phải cẩn thận không nên chấp trước vào trạng thái Hỷ lạc này. Nếu hành giả không an trú trong chánh niệm, mà thích thú hưởng thụ, thì Hỷ lạc trở thành một thứ kiết sử trói buộc, chứ không còn là Hỷ giác chi nữa!
Nhìn chung, Hỷ không chỉ là một cảm giác dễ chịu, mà còn là một yếu tố giúp duy trì sự tinh tấn trong tu tập. Khi có niềm vui, hành giả không cảm thấy quá mệt mỏi, hay chán nản những khi gặp trở ngại trên lộ trình tu tập. Ngược lại nhờ có Hỷ hỗ trợ nên hành giả cảm thấy con đường tu hành tuy có gian nan, nhưng đó là một hành trình khám phá đầy thú vị, nên hành giả cố gắng vượt qua.
5) Khinh an giác chi: Khinh an giác chi là trạng thái nhẹ nhàng thư thái của thân và tâm.
- Về Tâm : Không còn bị những suy nghĩ nặng nề, những lo âu phiền muộn chi phối, nên tâm được nhẹ nhàng, thư giản, dễ chịu, thì đó là trạng thái tâm khinh an.
- Về Thân: Khi ngồi thiền, vô định sâu, tâm hoàn toàn tĩnh lặng, hành giả cảm thấy cơ thể dường như nhẹ hẩng, không còn trọng lượng. Những căng thẳng trong cơ bắp, những áp lực trong cơ thể dần tan biến, chỉ còn lại một cảm giác thư thái dễ chịu. Đó là trạng thái thân khinh an.
Yếu tố Khinh an, giúp hành giả duy trì sự cân bằng trên con đường tu tập, nó khiến hành giả cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng thanh thoát, mọi áp lực, mọi căng thẳng biến mất.
6) Định giác chi: Định có hai loại. Thứ nhứt là An chỉ định thuộc về thiền Chỉ (Samatha) gồm bốn tầng thiền Hữu sắc, cao hơn là bốn tầng thiền Vô sắc, và định Sát-na thuộc về thiền Quán (Vipassana)
Định tiếng Pali là Samãdhi. Định là trạng thái ổn định vững chắc của tâm, là khả năng an trú trong sự tĩnh lặng tuyệt đối, không còn bị quấy nhiễu bởi những vọng tưởng, những phiền não.. nên tâm không còn bị xao động. Định có ba cấp bậc là: Sát-na định, Cận hành định và Kiên cố định. Tu thiền Chỉ (Samatha) mà đắc Sơ thiền, tâm an định nhưng không vững chắc, tạm gọi là Sát-na định. Từ Nhị thiền trở lên có thể xem như Cận hành định. Nếu vững chắc thì gọi là Kiên cố định hay Bất động định.
Định không phải là trạng thái tâm hư vô trống rỗng không biết gì, mà định là trạng thái tâm an trú trong thực tại với sự tỉnh thức trọn vẹn. Nhưng định chưa phải là mục tiêu cuối cùng trên con đường giác ngộ giải thoát. Định là phương tiện giúp tâm yên lặng, sáng suốt, là nền tảng để hành giả quán chiếu phát huy trí tuệ thấy rõ chân lý. Phần quán chiếu này tức là phần tu tập Thiền Quán (Minh sát tuệ, Vipassana).
Tu tập Thiền quán hay Tuệ quán, hành giả không cần xử dụng tới Kiên cố định mà chỉ cần tâm ổn định, tức là Sát-na định. Nhưng nếu vị nào đắc thiền Định chuyển qua thiền Quán vẫn tốt hơn là vị không đắc thiền.
7) Xả giác chi: Xả tiếng Phạn là “upekkha”, bình thường có nghĩa là buông xả không dính mắc. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) upekkha có nghĩa là trung lập, không phân biệt, không thiên vị bên nào bất kể người đang hạnh phúc hay đau khổ, thiện hay bất thiện, thân hay sơ, bạn hay thù. Người đạt tâm Xả, xem tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Đó là trạng thái quân bình chứ không phải là sự thờ ơ, lãnh đạm, dửng dưng, vô cảm, thiếu lòng trắc ẩn. Trái lại, tâm Xả là trạng thái tâm bình thản do phát xuất từ trí tuệ nhận biết rằng mỗi chúng sinh đang gặt quả của nghiệp riêng mình.
Người tu tập đạt được trạng thái Xả, tâm vị ấy hoàn toàn tự do, không bị lay chuyển bởi 8 pháp thế gian: Thành công-Thất bại, Khen-Chê, Nổi danh-Mất danh, Hạnh phúc-Khổ đau. Nội tâm vị ấy vững chãi, tự tại, không còn sợ hãi, không còn lo lắng, không còn bị lôi cuốn theo dòng xoáy của cuộc đời. Tâm Xả là kết quả của thiền định vững chắc.
Thất giác chi có thể chia ra làm hai nhóm: Nhân và Quả.
- Nhóm Nhân là ba giác chi đầu gồm Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi và Tinh tấn giác chi.
- Nhóm Quả gồm bốn giác chi tiếp theo là Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi và Xả giác chi. Khi tu tập hành giả chỉ thực hiện trên phần Nhân. Còn phần Quả, khi Nhân đầy đủ thì tự nó sẽ phát sinh. Hành giả không thể tự tạo ra Hỷ, Khinh an, Định và Xả được.
Gút lại, bảy giác chi này không phải là những yếu tố tách rời, mà có mối liên hệ mật thiết, mỗi chi giữ một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hành giả thực hành Tứ Niệm Xứ, giúp họ đạt được sự tỉnh giác và giải thoát.
III. QUÁN ĐỀ MỤC “BẢY GIÁC CHI”
Sau đây là phần quán Pháp trên các pháp đối với bảy giác chi. Kinh Tứ Niệm Xứ dạy nguyên văn như sau:
“..... Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy giác chi? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có niệm giác chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh, nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy” (hết trích)
Qua đoạn kinh này đức Phật dạy: Khi trong tâm hành giả có một niệm nào xuất hiện thì hành giả có ngay cái biết, tức tuệ tri về đối tượng đó. Cái biết đang là về đối tượng đó gọi là chánh niệm, là niệm giác.
Và khi trong tâm có chánh niệm, hành giả biết rõ là trong tâm mình đang có chánh niệm. Trong tâm không có chánh niệm, thì biết là trong tâm không có chánh niệm. Hoặc chánh niệm chưa sanh, bây giờ sanh khởi, hành giả cũng biết như thế. Hay là hành giả tu tập chánh niệm được viên thành, hành giả cũng tuệ tri như vậy.
Về các chi: Trạch, Tấn, Hỷ, Khinh, Định, Xả... kinh Tứ Niệm Xứ cũng dạy cách thực tập giống như cách quán Niệm giác chi.
Tiếp theo kinh dạy:“... Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy giác chi” (hết trích)
Các vị Tỷ-kheo tu tập an trú chánh niệm trên các nội pháp, ngoại pháp. Nhận ra tánh sanh diệt của các pháp...Từ đó, vị ấy không nương tựa hay chấp trước bất cứ việc gì trên đời, chỉ lo tu tập phát huy chánh trí chánh niệm trên các pháp. Đức Phật xác nhận vị Tỷ-kheo ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy giác chi.
IV. KẾT LUẬN
Thất giác chi là những yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển tâm linh, đạt được giác ngộ. Trong khi Tứ Niệm Xứ tập trung vào việc quan sát, nhận biết các hiện tượng xảy ra trên thân, thọ, tâm, pháp.
Như vậy chúng ta có thể hiểu Tứ Niệm Xứ là bốn nền tảng để quan sát và nhận biết các pháp. Còn Thất giác chi là những yếu tố cung cấp phương tiện để hành giả phát triển và duy trì sự tỉnh giác đó.
Quán pháp là để thấu hiểu các pháp. Hiểu rõ đặc tính của các pháp, hành giả áp dụng phương thức “như lý tác ý” vào con đường tu tập của mình. Thí dụ năm pháp bất thiện: Tham, Sân, Hôn Trầm, Trạo cử và Hoài nghi bị xem là Năm triền cái cản trở sự tỉnh giác thì hành giả cần loại chúng ra. Ngược lại, Thất giác chi là bảy yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển tâm linh, giúp hành giả giác ngộ giải thoát, thì thiền sinh chúng ta cần học tập nuôi dưỡng.
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Sinh hoạt ngày 10/8/2025 với Hội thiền Tánh Không Texas)