HÃY SỐNG HIẾU THẢO VỚI MẸ CHA (phần cuối)
Đứa con bất hiếu chết về đâu?!
Cõi ác ba đường, lắm khổ sầu!
Tỉnh ngộ dưỡng nuôi cha mẹ kỹ.
Trở thành con Hiếu, nghiệp tiêu mau.
*******************************
Thơ 7 chữ 4 câu:
Con nay thành đạt, nhớ công ai.
Bố sống phụ hồ khổ lắm ngày.
Con có người yêu quên hẳn Bố.
Phải chăng nghề Bố nhục con trai?!
***
Những cảnh thế này có hiếm đâu!
Nuôi con cực khổ chỉ mong sao.
Thành tài con trả ơn nuôi Bố.
Nghịch cảnh xảy ra sợ họ dâu.
***
Cha mẹ sinh tiền chẳng dưỡng nuôi.
Cỗ đầy ngày giỗ, cúng dâng ruồi.
Nhà mồ sang trọng như tư thất.
Giả mặt dối người, quá rởm đời!
***
Mồ cất khang trang phụ mẫu dùng.
Muốn cho cha mẹ sống ung dung.
Ở ngoài đồng vắng nhiều năm tháng.
Ngạ quỷ biến thành, thật rõ khùng!
***
Tiền đô, vàng mã... cúng linh hồn!
Cốt để mẹ cha sẵn có luôn!
Làm vậy họ cho là trả HIẾU.
Thật là hoang tưởng, quá tin cuồng.
***
Nếu thật cõi âm có việc này.
Hương linh được hưởng, lạ lùng thay!
Âm hồn, ngạ quỷ tranh giành hết.
Thần thức giận run, khổ lắm ngày!
***
Con HIẾU, song thân mất, nhớ ngay:
Tụng Kinh, Niệm Phật.. phải hàng ngày.
(Tụng kinh A Di Đà âm Việt)
Phóng Sinh, Bố Thí,...cầu cha mẹ.
Tịnh Độ mau về, mới tuyệt hay!
***
Không chấp điếu, không nhận lẵng hoa.
Xin người viếng niệm Phật Di Đà.
Mười câu hồi hướng cho người mất.
Cầu nguyện hương linh thoát Sa bà.
***
Con có Hiếu nên cố nhớ là:
Đền ơn đáp nghĩa mẹ và cha.
Trước ngày Sinh Nhật lo tu Phước.
Cầu nguyện song thân thấy Phật Đà.
***
Ước nguyện lệ thành, cứ mỗi năm,
Tới ngày Sinh Nhật, đáp ân thâm.
Mẹ cha vui lắm: tăng thêm phước.
Cực Lạc mau về: cõi tịnh an.
***
Phật sống là cha mẹ chớ quên.
Biết lo Hiếu dưỡng, Phước tăng lên.
Việc làm có khó, xin đừng nản.
Kết quả đem về, khó nghĩ nên.
***
Những lời bày tỏ rất chân thành:
Con HIẾU cố làm, xấu biến nhanh.
Còn cứ muội mê không chịu sửa.
Đường đời nghịch cảnh cứ vây quanh!
***
Đọc hết bài thơ HIẾU MẸ CHA.
Có ai thích CHÁNH, tránh xa TÀ.
Ấy người PHƯỚC lớn nên làm vậy.
Cuộc sống gia đình sẽ NỞ HOA.
**************************************
Thơ 9 chữ:
Vợ nuôi chồng ở Tù ngoài Bắc thật xa.
Chăm con cảnh thiếu thốn thật là gian nan.
Qua Mỹ, con cái đều đỗ đạt danh thành.
Chúng sống vương giả, chẳng đoái hoài mẹ cha.
***
Hồi nhỏ, vắng Mẹ các con chạy đi tìm.
Bây giờ Mẹ ốm, chúng im lìm tăm hơi.
Khi Cần: chúng mới nghĩ tới Mẹ mà thôi.
Nay sống no đủ, chuyện người nào nấy lo.
***
Đề Nghị:
Tháng Bảy Vu Lan nên nghĩ tới Mẹ Cha.
Gọi hỏi thăm dăm phút cũng là tốt thôi.
Nếu có thể Đem Quà Biếu, thật tuyệt vời!
Phước tạo nhiều lắm, cuộc đời hanh thông.
***
Trước ngày Giỗ Kỵ nên đọc chú vãng sanh.
Một ngàn tám chục biến khi xong nguyện cầu:
Tứ Thân Phụ Mẫu về Tây Phương thật mau.
Đó mới xứng Đền Đáp Ân Sâu Sinh Thành.
***
Tứ thân phụ mẫu còn sống ta làm gì?
Tu tạo nhiều công đức rồi thì nguyện xin:
Bốn vị thích Niệm Phật và thường Phóng Sinh.
Giúp đỡ kẻ khó tạo Phước lành để khi….
***
Kết luận:
Có người thường gặp xui xẻo trong cuộc đời.
Bởi thiếu Phước, chớ kêu trách trời làm chi,
Phật dạy: Phước quyết định mọi việc, nhớ ghi.
Sống Hiếu Thảo Cha Mẹ xấu biến đi mấy hồi.
***
Cha mẹ sinh con, NGHIỆP sẽ sinh Tính.
Tính Tốt, Xấu sẽ quyết định đời người.
Biết vậy, Xấu Cố bỏ thành Tốt thôi.
Cứ chuyên Hành Thiện, cuộc đời khác ngay.
***
Chúng tôi thành tâm kính mong quý bạn đạo hữu duyên từ nay thử thực hành điều chúng tôi vừa đề nghị. Được vậy, chúng ta đang tỏ lòng hiếu thảo với mẹ cha đó. Lòng Hiếu Thảo đứng đầu trong các hạnh lành, nên cứ có dịp tỏ bày, chúng ta cố nhớ đừng bỏ qua. Với cha mẹ đã quá vãng, xin hãy đọc chú vãng sanh, một phút đọc được 4 biến. Còn cha mẹ hiện sống, làm nhiều việc lành rồi hồi hướng cho họ. Đồng thời nên nhắc nhở Cha Mẹ cố Tu Tập Phật pháp như Bố Thí, Cúng Dường, Phóng Sanh, Niệm Phật, Ăn Chay và dự những khóa lễ Sám Hối và Bát Quan Trai.
Nếu có nhiều người cùng hưởng ứng, chúng tôi xin đem công đức này hồi hướng tất cả pháp giới chúng sanh tương lai đều sanh về Tịnh độ.
Xin chân thành cảm ơn quý vị đã đọc bài viết và thực hành./.
Xin mời Quý vị đọc một trích đoạn trong KINH VU LAN BỒN để hiểu rõ nỗi khổ của MẸ và từ đây nên thay đổi cách sống với Tứ Thân Phụ Mẫu.
Đoạn dưới được rút ra từ đường link:
https://chuahoangphap.com.vn/thu-vien-kinh-sach/chi-tiet-kinh-vu-lan-va-bao-hieu-138/index-416/
PHẬT NÓI
KINH BÁO ĐÁP CÔNG ƠN CHA MẸ
(Không trích đoạn trên)
…………………………….
(Quý vị muốn đọc đầy đủ xin bấm vào đường link ở trên)
Ta từng nghe lời tạc như vầy:
Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,
Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung,
Chư Tăng câu hội rất đông,
Tính ra đến số hai muôn tám ngàn,
Lại cũng có các hàng Bồ-tát,
Hội tại đây đủ mặt thường thường,
Bấy giờ, Phật lại lên đường,
Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành.
Đáo bán lộ đành rành mắt thấy,
Núi xương khô bỏ đấy lâu đời,
Thế Tôn bèn vội đến nơi,
Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng
Đức A-nan trong lòng ái ngại,
Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương,
Vội vàng xin Phật dạy tường:
“…Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài.
Ai ai cũng kính Thầy dường ấy,
Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?”
Phật rằng: Trong các môn đồ,
Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công.
Bởi chưa biết đục trong chưa rõ,
Nên vì ngươi Ta tỏ đuôi đầu:
Đống xương dồn dập bấy lâu,
Cho nên trong đó biết bao cốt hài.
Chắc cũng có ông bà cha mẹ,
Hoặc thân ta, hoặc kẻ ta sanh,
Luân hồi sanh tử, tử sanh,
Lục thân đời trước, thi hài còn đây.
Ta lễ bái kỉnh người tiền bối,
Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa.
Đống xương hỗn tạp chẳng vừa,
Không phân trai gái bỏ bừa khó coi.
Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ,
Phân làm hai bên nữ, bên nam,
Để cho phân biệt cốt phàm,
Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng.
Đức A-nan trong lòng tha thiết,
Biết làm sao phân biệt khỏi sai,
Ngài bèn xin Phật tỏ bày,
Vì khó chọn lựa gái trai lúc này.
Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt,
Cách đứng đi ăn mặc phân minh,
Chớ khi rã xác tiêu hình,
Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân.
Phật mới bảo: A-nan nên biết,
Xương nữ nam phân biệt rõ ràng,
Đàn ông xương trắng nặng oằn,
Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.
Ngươi có biết cớ sao đen nhẹ?
Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra,
Sanh con ba đấu huyết ra,
Tám hộc bốn đấu sữa hoà nuôi con.
Vì cớ ấy hao mòn thân thể,
Xương đàn bà, đen nhẹ hơn trai.
A-nan nghe vậy bi ai,
Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh.
Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo,
Phương pháp nào báo hiếu song thân?
Thế Tôn mới bảo lời rằng:
Vì ngươi Ta sẽ phân trần khá nghe!
Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc,
Sanh đặng con thập ngoạt cưu mang,
Tháng đầu, thai đậu tợ sương,
Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường.
Tháng thứ nhì dường như sữa đặc.
Tháng thứ ba như cục huyết ngưng.
Bốn tháng đã tượng ra hình.
Năm tháng ngũ thể([1]) hiện sinh rõ ràng.
Tháng thứ sáu lục căn([2]) đều đủ.
Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương.
Lại thêm đủ lỗ chân lông,
Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn.
Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ.
Chín tháng thì đầy đủ vóc hình.
Mười tháng là đến kỳ sinh.
Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn,
Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu.
Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung,
Làm cho cha mẹ hãi hùng,
Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân.
Khi sanh đặng muôn phần khoái lạc,
Cũng ví như được bạc được vàng.
Thế Tôn lại bảo A-nan:
Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin.
Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo,
Mười tháng trường chu đáo mọi bề.
Thứ hai sanh đẻ gớm ghê,
Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.
Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng,
Cực đến đâu, bền vững chẳng lay.
Thứ tư ăn đắng nuốt cay,
Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con.
Điều thứ năm lại còn khi ngủ,
Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.
Thứ sáu sú nước nhai cơm,
Miễn con no ấm chẳng nhờm, chẳng ghê.
Điều thứ bảy không chê ô uế,
Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.
Thứ tám chẳng nỡ chia riêng,
Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo
Điều thứ chín miễn con sung sướng,
Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam,
Tính sao có lợi thì làm,
Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm.
Điều thứ mười chẳng ham trau chuốt,
Dành cho con các cuộc thanh nhàn,
Thương con như ngọc như vàng,
Ơn cha, nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn.
Phật lại bảo: A-nan nên biết!
Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người,
Mười phần mê muội cả mười,
Không tường ơn trọng đức dày song thân.
Chẳng kính mến, quên ân, trái đức,
Không xót thương dưỡng dục cù lao.
Ấy là bất hiếu mặc giao,
Thì những người ấy đời nào nên thân.
Mẹ sanh con cưu mang mười tháng,
Cực khổ dường gánh nặng trên vai,
Uống ăn chẳng đặng vì thai,
Cho nên thân thể hình hài kém suy.
Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết,
Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề,
Ví như thọc huyết trâu dê,
Nhứt sanh thập tử nhiều bề gian nan.
Con còn nhỏ phải lo săn sóc,
Ăn đắng cay, bùi ngọt phần con,
Phải tắm, phải giặt, rửa trôn,
Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì.
Nằm phía ướt, con nằm phía ráo,
Sợ cho con ướt áo, ướt chăn,
Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân,
Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.
Trọn ba năm bú nương sữa mẹ,
Thân gầy mòn nào nệ với con,
Đến khi vừa được lớn khôn,
Mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng,
Cho đi học mở thông trí huệ,
Dựng vợ chồng có thế làm ăn,
Ước mong con được nên thân,
Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi.
Con đau ốm tức thì lo chạy,
Dầu tốn hao cách mấy cũng đành,
Khi con căn bệnh đặng lành,
Thì cha mẹ mới an thần định tâm.
Công dưỡng dục sanh bằng non biển,
Cớ sao con chẳng biết ơn này!
Hoặc khi lầm lỗi bị rầy,
Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang.
Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt,
Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi,
Bà con chẳng kể ra chi,
Không tuân Sư phụ lễ nghi chẳng tường.
Lời dạy bảo song đường không kể,
Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng.
Trái ngang chống báng mọi đàng,
Ra vào lui tới mắng càn người trên.
Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng,
Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn,
Lớn lên theo thói hung hăng,
Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung.
Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ,
Nết tập quen làm sự trái ngang,
Nghe lời dụ dỗ quân hoang,
Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người.
(Không trích đoạn tiếp theo)