TIỂU SỬ VẮN TẮT
NAMTRUL RINPOCHE JIGME PHUNTSOK (1944-2011)
Holly Gayley[1] soạn | Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

Namtrul Rinpoche Jigme Phuntsok sinh năm Mộc Thân (1944) trong thung lũng Gakyil, dưới chân núi thiêng Drongri Mukpo, nơi đóng vai trò là vị thần bảo vệ cho Serta. Cha Ngài, Namlo từ Buchung, xuất thân từ dòng dõi Mukpo Dong còn mẹ Ngài, Drokkyi, đến từ tộc Getse.
Namtrul Rinpoche được công nhận là vị tái sinh Namkhai Nyingpo thứ Tư của Tu viện Zhuchen ở Serta, một nhánh của Kathok, bởi Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro (1893-1959) nổi tiếng. Được tấn phong khi lên tám (theo cách tính Tây Tạng, bảy tuổi theo cách tính quốc tế) tại Tu viện Zhuchen, Ngài chủ yếu tu học với Khen Rinpoche Jigme Senge, vị đã trao cho Ngài các chỉ dẫn về thực hành sơ khởi từ kho tàng của Tôn giả Longsal Nyingpo (1625-1692), và Zhuchen Kunzang Nyima, vị đã trao cho Ngài các quán đỉnh cũng như giáo lý về Kho Tàng Pháp Giới (Choying Dzod), một trong Bảy Kho Tàng của Tôn giả Longchen Rabjam (1308-1364), cũng như toàn bộ giáo lý của Rigdzin Düdul Dorje (1615-1672) và Rigdzin Longsal Nyingpo, điều cốt yếu với hệ thống kinh văn Kathok. Mười ba tuổi (theo cách tính Tây Tạng), Ngài thọ giới tu sĩ từ Khenpo Tubten Yarphel. Ngài cũng là đệ tử của Zhuchen Phende Chokyi Nyima.
Quá trình học tập của Ngài bị gián đoạn bởi sự chuyển đổi xã hội chủ nghĩa tại các vùng Tây Tạng, bắt đầu từ cuối thập niên 1950, khi Ngài vẫn là một thiếu niên. Tuy nhiên, vào năm 1966, Ngài đã hạnh ngộ Lama Rigdzin Nyima, vị ban cho Ngài các chỉ dẫn bí mật cho kho tàng sâu xa của chính vị này và bổ nhiệm Ngài là vị trông giữ (Chodak) các kho tàng. Về sau, giống như nhiều người khác trong giai đoạn này, Namtrul Rinpoche đã xả giới tu sĩ. Ngài kết hôn với một người phụ nữ tên Shambo trong thời gian ngắn và có một con trai, Lhaksam Namdak. Người con này về sau được công nhận là vị tái sinh của thầy Ngài, Đức Zhuchen Kunzang Nyima.
Năm 1978, Ngài nhận được một bức thư từ Khandro Tare Lhamo (1938-2002), con gái của Apang Terchen (1895-1945), điều chứa đựng tiên tri về những phát lộ kho tàng trong tương lai của hai vị với tư cách là một cặp đôi. Hai vị trao đổi thư từ trong hơn một năm trước khi Bà di chuyển đến quê Ngài ở Serta; tại đây, hai vị đã xây dựng lại Tu viện Nyenlung, cùng với Rigdzin Nyima, người đã giữ địa điểm đó làm ẩn thất và sau đó, di chuyển ẩn thất đi xa hơn trên cùng tuyến đường, duy trì mối quan hệ thân thiết với hai vị trong suốt cuộc đời. Dưới sự điều hành của chư vị, Nyenlung phát triển thành một Tu viện thịnh vượng, với hai trung tâm nhập thất, các trung tâm nghiên cứu, hai sảnh đường lớn, một chùa Gesar, một chùa Zangdok Palri, nhiều bảo tháp, khu sinh hoạt cho gia đình, một ngôi nhà nhập thất, một nhà khách dành cho các chức sắc, khu Tăng xá và tòa chim công để thuyết giảng ngoài trời.
Năm 1980, Khenpo Jigme Phuntsok (1933-2004) đã ban cho Namtrul Rinpoche và Khandro Tare Lhamo trao truyền về tuyển tập kho tàng của Apang Terchen, điều mà Khandro Tare Lhamo từng thọ khi còn là một đứa trẻ từ chính cha của Bà, và đã khuyến khích hai vị truyền bá chúng rộng rãi. Sau đó, năm 1986, Khenpo Jigme Phuntsok đã cho phép hai vị là Terton và ban trao truyền tuyển tập kho tàng của Lerab Lingpa (1856-1926), tiền thân của chính Ngài. Năm 1987, Namtrul Rinpoche và Khandro Tare Lhamo đã gia nhập đoàn tùy tùng khoảng 10000 người của Khenpo Jigme Phuntsok trong chuyến hành hương lịch sử đến Ngũ Đài Sơn, chốn linh thiêng của Bồ Tát Văn Thù ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc; tại đây, hai vị đã phát lộ một nghi quỹ Diệu Âm.
Trong suốt thập niên 1980 và 90, Namtrul Rinpoche và Khandro Tare Lhamo đã phát lộ các kho tàng cùng nhau và giảng dạy rộng khắp ở vùng Golok và hơn thế. Trong sự nghiệp thuyết giảng, hai vị nắm giữ và trao truyền ba tuyển tập kho tàng chính yếu: các kho tàng của chính hai vị gồm 12 quyển, các kho tàng của Apang Terchen gồm 16 quyển và các kho tàng của Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje (1904-1987), điều đã được trao truyền cho hai vị vào năm 1990 bởi Dola Chokyi Nyima Rinpoche, con trai của Dudjom Rinpoche. Hai vị tổ chức một Pháp hội thường niên tại Nyenlung vào mỗi mùa Hè, thu hút hơn một nghìn môn đồ tham dự kể từ thập niên 1990, và đóng vai trò là vị quản lý cho nhiều Tu viện khác ở Golok và các vùng lân cận, giúp gây quỹ cho các dự án tái xây dựng, tài trợ nghi lễ và thiết lập các thực hành nghi quỹ, trong khi thường xuyên viếng thăm để ban giáo lý. Hai vị cũng đặc biệt yêu thích và thúc đẩy sử thi Gesar.
Có nhiều khía cạnh trong danh tính của Namtrul Rinpoche, rút ra từ chính danh tính của Khandro Tare Lhamo, điều đã được công khai sau này trong đời. Đầu tiên, Ngài là hóa hiện hoạt động của cha Bà, Apang Terchen. Ngoài ra, các hóa hiện khác của Apang Terchen là Đức Sakya Trizin thứ 41 – Ngawang Kunga Tekchen Palbar (vị sinh năm 1945) và Jigme Wangdrak Dorje, cháu trai của Apang Terchen, người được tấn phong khi còn trẻ và đã sống tại Tu viện Azö ở Jigdril. Một danh tính khác là hóa hiện của Drime Ozer (1881-1924), bậc thầy và cũng là vị phối ngẫu của Sera Khandro (1892-1940), một trong hai nhân vật địa phương mà Tare Lhamo từ thuở nhỏ đã được xác nhận là hóa thân.
Namtrul Rinpoche sống lâu hơn Khandro Tare Lhamo gần một thập niên; trong thời gian đó, các đệ tử từ Trung Quốc của Ngài ngày càng tăng và Ngài tiếp tục phát triển và mở rộng Tu viện Nyenlung cũng như nhiều trung tâm Giáo Pháp liên hệ với Nyenlung ở khắp Trung Quốc. Sau thời gian dài lâm bệnh và một thời gian ở trong bệnh viện, Ngài viên tịch vào ngày 07 tháng 11 năm 2011. Kunzang Drolma, vị trở thành phối ngẫu của Ngài sau khi Khandro Tare Lhamo viên tịch, đã giữ gìn nơi cư ngụ của Ngài tại Nyenlung như một phòng thờ.
Truyền thừa Giáo Pháp của Namtrul Rinpoche và Khandro Tare Lhamo được truyền cho con trai Ngài, Tulku Lhaksam, vị hiện nay là người đứng đầu Tu viện Nyenlung và là vị trì giữ truyền thừa cho giáo lý kho tàng của hai vị cũng như của Apang Terchen. Ngoài việc được xem là vị tái sinh của Zhuchen Kunzang Nyima, Tulku Lhaksam cũng được cho là vị tái sinh của Wangchuk Dorje, con trai của Khandro Tare Lhamo, người đã chết trẻ. Hiện nay, xá lợi của Namtrul Rinpoche và Khandro Tare Lhamo được thờ cùng nhau trong một phòng thờ trong khuôn viên gia đình tại Nyenlung.
Nguồn Anh ngữ: The Fourth Namkhai Nyingpo, Namtrul Jigme Puntsok
(https://treasuryoflives.org/biographies/view/Fourth-Namkhai-Nyingpo-Namtrul-Jigme-Puntsok/8650).
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.
[1] Holly Gayley là Giáo Sư Trợ Lý (Assistant Professor) trong Phòng Nghiên Cứu Tôn Giáo tại Đại Học Colorado, Boulder.