LỜI GIỚI THIỆU:
Prajnaparamita (Bát nhã Ba La Mật Đa) là chỗ kết tinh của mọi lý luận trong thiên hạ, còn Sunyata, (Tánh Không) làm tiêu dung tất cả các kiến giải cổ kim. Mô phỏng theo Ngọa Long Sinh, ta có thể nói “Trước Thiên Kiếm Prajnaparamita, lý luận không còn tuyệt học; dưới Tuyệt đao Sunyata, kiến giải không có sinh cơ.”! Đẩy lý trí con người vào tuyệt lộ, buộc tất cả các luận sư uyên bác phải đối diện với sự sụp đổ tan tành của mọi hệ thống lý luận, đó là Tuyệt đao. Nhưng phủ định toàn triệt theo tinh thần Prajna là thể cách vi diệu để đưa đến sự khẳng định toàn triệt trong cảnh giới tự do tuyệt đối, đó là Thiên kiếm. Tuyệt đao thì phá hủy mọi kiến giải theo thể cách của Trí tuệ, còn Thiên kiếm thì từ bi hóa độ theo thể điệu của Bi tâm. Cả kiếm lẫn đao đều vạch ra một thông lộ cho hành giả tìm về cõi đạo uyên nguyên trong sự Im Lặng của đức Phật – sự Im Lặng bao trùm tất cả những chân trời tư tưởng của nhân loại.Triết học Trung quán tông tạo ra cuộc cách mạng trong tư tưởng Phật giáo, và từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền triết học Ấn Độ.
Cuốn sách được chia thành ba phần rõ rệt, dài ngắn khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Phần đầu chủ yếu nói về lịch sử Trung quán tông
Phần hai là phần chính của tác phẩm, dùng để trình bày đầy đủ triết học Trung quán tông
Phần cuối của tác phẩm đối chiếu triết học Trung quán tông với những hệ thống triết học biện chứng pháp lừng danh ở phương Tây (Kant, Hegel và Bradley),
Toàn bộ tư tưởng Phật giáo đều hướng về học thuyết Không Tính của Trung quán tông (mādhyamaka). Tác phẩm này là một nỗ lực của nhà tư tưởng lỗi lạc T. R. V. Murti giúp lấp đầy khoảng trống kiến thức của chúng ta. Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ về Trung quán tông trong mọi khía cạnh quan trọng của nó, là tác phẩm khảo cứu nghiêm túc được đánh giá là một trong những cuốn sách hay nhất thế giới về Trung quán tông.
T. R. V. Murti là một bậc thức giả phương Tây, nhưng tâm hồn ông lại được nuôi dưỡng trong không khí tâm linh phương Đông, đọc Nghiên cứu về Trung quán tông của ông, ta có cảm giác gần gũi như một bậc luận sư phương Đông đã thấu hiểu ngọn ngành của triết học phương Tây, liễu tri được toàn bộ sự bế tắc của nền văn minh duy lý châu Âu đang làm khốn quẫn toàn thế giới trong mạng lưới tư duy theo kiểu Âu châu. Một người được nuôi dưỡng trong bầu không khí triết học phương Tây lại mạnh dạn khẳng định: “Biện chứng pháp của Hegel là một sản phẩm xa hoa phù phiếm, chứ hoàn toàn vô giá trị về phương diện tâm linh”, để kêu gọi thế giới quay về đời sống tâm linh phương Đông, đặc biệt là Tuyệt đối luận của Trung quán tông Phật giáo, xem như đó là lối thoát cuối cùng và duy nhất cho toàn thế giới
Bản dịch được thực hiện từ nguyên tác tiếng Anh The Central Philosophy of Buddhism của tác giả T.V.Murti, NXB Goerge Allen and Unwin, 1968, đồng thời có tham khảo thêm bản tiếng Trung Trung quán triết học 中視哲學 do Quách Trung Sinh 郭忠生 dịch, Hoa Vũ xuất bản xã, Phật lịch 2528 (năm 1984)
Bản tiếng Trung có lời tựa của một số danh tăng thời hiện đại như Bạch Thánh dại sư, Ấn Thuận đại sư, Tinh Vân dại sư, Tĩnh Tâm đại sư, Diễn Bồi đại sư, đủ thấy tầm quan trọng của tác phẩm này đối với Trung quán tông, dù là qua bản dịch. Bản tiếng Trung dịch quá thoáng, có nhiều đoạn hầu như phóng tác, theo cách vừa dịch vừa giải thích, nhất là bỏ qua hầu như toàn bộ phần ghi chú (footnote), đặc biệt là phần chữ Phạn, chỉ thỉnh thoảng mới đưa một vài câu trích dẫn trong phần ghi chú vào ngay trong bản dịch.
Vì đây là tác phẩm khảo cứu nghiêm túc và uyên bác, được đánh giá là một trong những cuốn sách hay nhất thế giới về Trung quán tông, nên tôi dịch toàn bộ không bỏ sót một chi tiết nào, với hy vọng nó có thể đóng góp được phần nào tài liệu học tập, trong điều kiện tư liệu nghiên cứu có giá trị về Trung quán tông ở Việt Nam chưa phải là nhiều. Tôi chỉ bỏ không dịch 5 trang phụ lục ở cuối nguyên tác, liệt kê và giải thích 20 loại Không (Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Đại không...), vì nội dung cũng không có gì mới, và cũng quá quen thuộc với bạn đọc Việt Nam.
Bản dịch được thực hiện theo nguyên tắc sau:
1. Toàn bộ phần tiếng Phạn, kể cả trong phần chú thích, đều được ghi lại đầy đủ theo nguyên tác tiếng Anh. Khi tìm được những đoạn dịch tương ứng trong Đại tạng kinh bản Hán ngữ, chúng tôi đều ghi chú thêm để bạn đọc tiện so sánh.
2. Về phần ghi chú thêm của người dịch: nếu là ghi chú độc lập sẽ ghi là (N.D), còn nếu là ghi chú bổ sung cho ghi chú trong nguyên tác thì ghi thêm trong dấu [], ví dụ [G.c. N.D...]
3. Do hiện nay các thuật ngữ triết học phương Tây khi được dịch sang tiếng Việt vẫn chưa được thống nhất, vì cùng một từ mà có nhiều cách dịch khác nhau, nên để bạn đọc có thể đối chiếu được với một số thuật ngữ cần thiết trong nguyên tác, phần tiếng Anh ghi thêm sẽ in nghiêng và đặt trong dấu [] (ví dụ Thực tại luận [Realism], quy kết bội lý [reductio ad absurdum], v.v.); đối với những đoạn tiếng Anh dài quá thì chúng tôi chuyên xuống phần ghi chú ở cuối trang để bản dịch đỡ rối, và đánh dấu (*). Có khi một thuật ngữ lại có nhiều cách dịch tùy theo ngữ cảnh và nội dung liên quan, chẳng hạn như [The] Absolute được dịch là Tuyệt đối, hoặc là Cái Tuyệt Đối trong tư tưởng Hegel và Cảnh giới Tuyệt đối trong tư tưởng Trung quán tông để đối lập lại Hiện tượng giới; [The] Real được dịch là Thực hữu, Cái Thực Hữu, Chân thực, v.v.
4. Toàn bộ phần tiếng Hán là do người dịch đưa thêm vào để có thêm thông tin đối chiếu, đối với những bạn đọc đã quen với thuật ngữ tiếng Hán.
5. Tên kinh luận, tên người, tên tông phái, v.v. nếu thuộc Ấn Độ thì để nguyên tên Phạn ngữ thay vì theo cách phiên âm của người Trung, người Việt như A Di Dà, Di Lặc, Bô Tát, v.v. Bản dịch chi ghi tên phiên âm lần đầu tiên, ví dụ Nagarjuna (Long Thọ 龍樹), Vasubandhu (Thế Thân 世身), Abhidharmika (A-tỳ-đạt-ma 阿毗逹摩), Sautrantika (Kinh Lượng Bộ 經量部), v.v. sau đó chỉ ghi là Nagarjuna, Vasubandhu, Abhidharmika, Sautrantika, v.v. Độc giả có thể đối chiếu tại phần thuật ngữ ở cuối sách.
6. Từ Dialectic được dịch chung là “Biện chứng pháp”, lẽ ra theo tinh thần Trung quán tông thì biện chứng pháp Trung quán tông nên dịch là “Dịch hóa pháp”, nhưng ở đây tác giả muốn đối chiếu Biện chứng pháp phương Tây với triết học Trung quán tông nên chúng tôi để nguyên một cách dịch chung.
Luận điển chủ yếu của Trung quán tông được trích dẫn hầu như suốt tác phẩm là Trung luận kệ tụng (Madhyamika Karika) từ nguyên tác tiếng Phạn. Vì đây là luận điển cực kỳ quan trọng để hiểu được tư tưởng Trung quán tông, nên chúng tôi ghi đưa thêm vào bản dịch nổi tiếng của pháp sư Kumarajiva (Cưu Ma La Thập), vốn đã quá quen thuộc với bạn đọc Việt Nam.
Đây là tác phẩm thuộc loại kinh điển của Trung quán tông, nên rất khó dịch. Người dịch vì khao khát cái học Tâm tông nên cố gắng dịch tác phẩm này để đóng góp thêm một phần nhỏ vào việc nghiên cứu Phật học hiện nay. Bản dịch chắc hẳn còn nhiều điểm bất toàn, tôi xin chân thành ghi nhận mọi sự đóng góp ý kiến của các bậc thức giả.
Người dịch xin thành tâm hồi hướng công đức dịch sách này đến tất cả mọi người để cầu xin mọi điều an lạc. Nếu như bản dịch này giúp ích được phần nào cho những ai đang khát khao tìm về cái học Tâm tông, thì xem như đó là điều tâm nguyện của người dịch.
Người dịch cấn chí
Link: tanh-khong-cot-tuy-triet-hoc-phat-giao-nghien-cuu-ve-trung-quan-tong.pdf - Google Drive