Thư Viện Hoa Sen

Pháp Giới Chân Như

PHÁP GIỚI CHÂN NHƯ

Nguyễn Thế Đăng

1/ Pháp giới được tìm thấy ở đâu

Pháp giớithế giới chân thật, được thấy đúng như thật, cả mặt bản tánhhình tướng.

Khi Thiên nữ Như Ý Bảo Quang Diệu thưa hỏi Thế Tôn:

“...Thế nào các Bồ tát

Hành chánh hạnh Bồ đề

Lìa sanh tử, Niết bàn

Lợi ích mình, người khác?

Đức Phật dạy Thiện nữ thiên: Y nơi pháp giới thực hành pháp Bồ đề, tu hạnh bình đẳng”.

(Chương Y Không mãn nguyện, thứ 10. Tất cả những câu kinh trích ra ở đây đều từ chương này của Kinh Kim Quang Minh, bản dịch của Tam tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh).

Muốn hành hạnh Bồ tát, lìa sanh tửNiết bàn, phải y vào, dựa vào pháp giới, mà tu hạnh bình đẳng. Pháp giớithế giới, vũ trụ, như các bậc Giác ngộ thấy. Đó là một thế giới bình đẳng trong tất cả mọi mặt, bình đẳng giữa tánh và tướng, bình đẳng giữa Niết bànsanh tử. Pháp giới ấy theo đầu đề của chương, Y Không mãn nguyện, có thể gọi là pháp giới Không.

Pháp giới bình đẳng ấy tìm thấy ở đâu? Kinh nói tiếp:

Thế nào là y vào pháp giớithực hành pháp Bồ đề và tu hạnh bình đẳng?

Nghĩa là ngay nơi năm uẩn có thể phát hiện thấy pháp giới. Pháp giới tức là năm uẩn. Nhưng chẳng thể nói pháp giới tức năm uẩn hoặc chẳng phải năm uẩn. Vì sao thế? Nếu pháp giớinăm uẩn, tức là đoạn kiến; nếu pháp giới lìa năm uẩn thì tức là thường kiến. Lìa hai tướng, chẳng vướng mắc hai cực đoan, chẳng thể thấy, vượt khỏi cái được thấy, vô danh vô tướng, như thế gọi là nói đến pháp giới.

Thiện nữ thiên! Thế nào là nơi năm uẩn có thể phát hiện thấy pháp giới? Năm uẩn như vậy chẳng từ nhân duyên mà sanh. Vì sao thế? Nếu từ nhân duyên sanh, thì vì đã sanh cho nên có sanh, hay vì chưa sanh cho nên sanh? Nếu do đã sanh mà có sanh thì cần gì nhân duyên? Nếu chưa sanh mà sanh thì sanh ấy chẳng thể được. Vì sao thế? Các pháp chưa sanh tức là chẳng có, vô danh vô tướng, suy lường thí dụ chẳng thể đến được, thế nên chẳng phải là do nhân duyên mà sanh ra”.

Con đường đạo Phật là nghe, đọc, học (Văn), tư duy (Tư) và thực hành (Tu). Khi đọc, học xong đoạn kinh này, cần phải tư duy vì kinh không phải lý luận suông, rồi sau đó thực hành thiền định thiền quán bởi vì cái hiểu, cái biết thật sự chỉ phát sanh từ thiền định, thiền quán.

Trong một bài viết, ở đây chỉ bàn vắn tắt.

Pháp giới Không này có thể tìm thấy nơi năm uẩn và những tác dụng có thể thấy được của chúng, các giác quan và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp... Gia tài làm người không có gì ngoài những cái đó, thế nên tìm pháp giới Không phải tìm nơi những cái đó.

Nơi năm uẩn mà phát hiện thấy pháp giới, nói gọn lại thì, nơi sắc, các hình tướng thế gian có thể phát hiện thấy tánh Không, pháp giới Không, tức là bản tánh của sắc, của thế giới hiện tượng. Kinh Bát Nhã Tâm Kinh nói: “sắc tức là Không, Không tức là sắc”. Không phải phá hủy sắc để có Không, mà phải thấy trực tiếp Không ngay nơi sắc.

Nhưng nếu cho rằng pháp giới Không là năm uẩn tức là đoạn kiến, vì năm uẩn thì có sanh diệt, chẳng lẽ pháp giới Không cũng sanh diệt? Còn cho rằng pháp giới Không lìa ngoài năm uẩn, nghĩa là pháp giới Không tự đứng một mình, mãi mãi như vậy, không liên hệ gì đến năm uẩn của con người, thì đó là thường kiến, chấp thường.

Nơi năm uẩnpháp giới. Kinh dạy cho hành giả một cách thiền quán để thấy pháp giới Không.

Năm uẩn chẳng từ nhân duyên mà sanh. Vì có hai trường hợp: nếu năm uẩn đã sanh thì cần gì có nhân duyên mới sanh ra? Còn nếu năm uẩn chưa sanh thì hoàn toàn không có, không thể tính toán suy lường nhân duyên thế nào, làm sao có thể sanh.

Tóm tắt đoạn thiền quán này: vì nhân duyên không đã sanh ra, không sẽ sanh ra, nên nhân duyênvô sanh. Do đó, năm uẩnvô sanh. Năm uẩn, con người, thế giớivô sanh, đây là pháp giới Không.

Những cách thiền quán về hiện tượng sắc để thấy bản tánh Không này có nhiều trong Trung (quán) luận của Bồ tát Long Thọ. Mục tiêu của chúng không phải chỉ để lý luận, không phải để lý luận biện chứng đưa đến chỗ vô lý (reductio ad absurdum) mà là để nhảy vọt khỏi ý thức và cuộc chiến giữa những cực đoan (biên) không ngừng của nó. Khi thức không còn có thể chạy đi đâu cả, bất lực dừng lại, thì đó là trí.

Thiện nữ thiên! Ví như tiếng trống dựa vào gỗ, vào da, dùi và tay đánh nên tiếng được phát ra. Tiếng trống như vậy quá khứ cũng rỗng không, vị lai cũng rỗng không, hiện tại cũng rỗng không. Vì sao thế? Âm thanh này của trống chẳng từ gỗ mà sanh ra, chẳng từ da mà sanh, chẳng từ dùi và tay mà sanh, chẳng nơi ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai mà sanh, tức là chẳng sanh.

Nếu chẳng thể sanh thì chẳng thể diệt. Nếu chẳng thể diệt thì không từ đâu mà đến. Nếu không từ đâu mà đến thì cũng không đi đâu. Nếu không đi đâu thì chẳng phải thường chẳng phải đoạn. Nếu chẳng thường chẳng đoạn thì chẳng phải một chẳng phải khác.

Vì sao thế? Nếu là một, thì năm uẩn chẳng khác pháp giới. Nếu như thế thì phàm phu đáng lẽ phải thấy chân đế, đắc Niết bàn vô thượng an lạc. Nhưng đã chẳng như vậy thì phải biết là chẳng phải một.

Còn nếu nói là khác, thì tất cả hành động (trong thế giới năm uẩn) của chư Phật Bồ tát tức là bám chấp, chưa được giải thoát khỏi phiền não ràng buộc, tức chẳng chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao thế?

Tất cả thánh nhân đối với hành (của năm uẩn) và chẳng phải hành (của pháp giới) đồng một tánh chân thật, thế nên là chẳng khác.

Thế nên, phải biết năm uẩn chẳng phải có chẳng phải không có, chẳng phải từ nhân duyên sanh, chẳng phải không có nhân duyên mà sanh. Đó là cái biết của thánh trí, chẳng phải cảnh giới nào khác, cũng chẳng phải chỗ lời nói đến được, không có danh không có tướng, không có nhân không có duyên, cũng không có thí dụ, đầu cuối vắng lặng, xưa nay tự Không. Thế nên nơi năm uẩn hay hiện thấy pháp giới.

Thiện nữ thiên! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào muốn cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khác với chân đế khác tục đế, khó có thể nghĩ lường, thì đối với cảnh phàm thánh thể chẳng phải một, khác, chẳng bỏ tục đế, chẳng lìa chân đế, y vào pháp giới mà hành Bồ đề hạnh”.

Tiếp tục quán sát sâu xa năm uẩn bằng thiền định để thấy pháp giới, bởi vì “ngay nơi năm uẩn có thể phát hiện thấy pháp giới”.

Đức Phật dạy cho Thiện nữ thiên quán sát âm thanh của cái trống. Tiếng trống phát ra từ gỗ, từ da, từ dùi hay từ tay? Tiếng trống có là do nhiều nhân duyên mà sanh ra, thiếu một nhân duyên thì không có tiếng trống. Rất nhiều nhân duyên, như không khí để truyền tiếng trống, phải có người làm ra trống bằng nhiều thứ hợp lại, và rồi phải có người nghe.

Tiếng trống do nhiều nhân duyên hợp lại mà tạm thời sanh. Do nhiều nhân duyên hội hợp nên tiếng trống là không có tự tánh, không tự có, không tự hiện hữu. Không có tự tánh, vô tự tánh nên rỗng không, là Không. Cái vô tự tánh, rỗng không thì thật ra chẳng sanh. Chẳng sanh ở đâu trong ba thời quá khứ, vị lai, hiện tại.

Tiếng trống chẳng sanh thì ngay đó là pháp giới Không.

Quán sát liên tục và rất nhiều lần, hành giả bắt đầu tin, và quán sát tiếp cho đến khi thoáng thấy cái sự thật là chẳng có cái gì sanh ra. Đến lúc thấy rõ ràng và trực tiếp cái chẳng sanh này, đây là cái Thấy, cái đầu tiên vào cửa trong cái Thấy, Thiền định, Hạnh và Quả, theo Đại Ấn và Đại Toàn Thiện của Ấn – Tạng.

Năm uẩn chẳng thể sanh thì chẳng thể diệt, không từ đâu đến cũng không đi đâu, chẳng phải thường chẳng phải đoạn, chẳng phải một chẳng phải khác”: năm uẩntánh Không, có xuất hiện nhưng là tánh Không “đầu tiên và cuối cùng đều vắng lặng”.

Ngay nơi năm uẩn, có thể phát hiện pháp giới, vậy thì năm uẩn là một hay khác với pháp giới? Kinh nói “chẳng phải một, chẳng phải khác”.

Nếu là một thì người phàm sống trong năm uẩn cũng thấy được pháp giới, cũng có cái thấy của bậc giác ngộ. Thế nên chẳng phải là một.

Nếu là khác thì các hoạt động của chư Phật Bồ tát trong thế giới năm uẩn không ở trong pháp giới giác ngộ, và do đó chỉ là phiền não ràng buộc. Chẳng khác vì các Bồ tát, đã chứng được phần nào pháp giới, khi làm việc trong thế gian năm uẩn vẫn không bị sanh tử ràng buộc, vì đã ở trong pháp giới vốn giải thoát.

Thế nên phải biết năm uẩn chẳng phải có, chẳng phải thật hiện hữu, vì không có tự tánh, nhưng chẳng phải không có, không xuất hiện. Xuất hiện nhưng không hiện hữu thật, đây là như huyễn, như mộng.

Chẳng phải từ nhân duyên mà sanh. Cho nên sanh này cũng không thật sanh, không thật hiện hữu. Chẳng phải không có nhân duyên mà sanh, tức là sự sanh này, sự xuất hiện này cũng như huyễn.

Thế giới chúng sanhxuất hiện, nhưng không thật hiện hữu, như huyễn, như mộng. Cái thấy thế giới chúng sanh như huyễn như mộng chính là cái thấy pháp giới Không.

2/ Cái thấy pháp giới chuyển hóa thế giới năm uẩn thành pháp giới

Khi Thiện nữ thiên nhờ những lời dạy ở trên, thông hiểu, nhập vào pháp giới, thì phát ra lời nguyện: nguyện cho tất cả vô biên chúng sanh của đời ác năm trược đều được thân màu sắc vàng ròng với ba mươi hai tướng tốt...

Thiện nữ thiên vừa nói lời nguyện xong thì tất cả chúng sanh trong đời ác năm trược đều có thân màu sắc vàng ròng, với ba mươi hai tướng tốt... Và chính Thiện nữ thiên cũng liền chuyển thân nữ thành thân Phạm thiên.

Cái gì đã gây ra sự chuyển hóa kỳ diệu này? Đó là cái Thấy. Cái thấy pháp giới đã chuyển hóa cái thấy thế giới năm uẩn sanh tử thành pháp giới thanh tịnh, thành cõi Phật. Cái thấy pháp giới đã biến toàn bộ thế giới chúng sanh thành ánh sáng vàng ròng (Kim Quang Minh).

Đây là cái thấy và lời nguyện của một vị đã nhập pháp giới. Và cái thấy ấy là của riêng vị ấy. Với một cá nhân, khi đã đạt đến tầng tâm linh ở mức độ nào đó, tầng tâm linh sẽ ảnh hưởng, tác động đến tầng ý thức – tình cảm, và xuống đến tầng thân thểgiác quan. Vị ấy thấy thế giới không còn là thế giới vật chất, vị ấy sống trong pháp giới Không mà vị ấy đã chứng phần nào. Đây là điều người bình thường có thể quan sát được nơi những hành giảchứng ngộ.

Nếu với nhiều Bồ tát đạt đến cái thấy của tầng tâm linh, thì đây là một Chánh báo lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến Y báo là vùng đất, hoàn cảnh sống của vùng đó. Khi các kinh Tịnh độ nói dân chúng ở nơi đó đều cùng một sắc vàng, quang cảnh nơi đó sáng sạch... là như vậy.

3/ Hạnh Bồ tát như trăng trong nước

Tiếp theo, Vua trời Đại Phạm hỏi Thiện nữ thiên tu hành hạnh Bồ đề (hạnh Bồ tát) như thế nào, ngài đáp:

Thưa Phạm vương! Nếu trăng trong nước mà hành Bồ đề hạnh thì tôi cũng hành Bồ đề hạnh. Nếu trong mộng có hành Bồ đề hạnh thì tôi cũng hành Bồ đề hạnh. Nếu sóng nắng hành Bồ đề hạnh thì tôi cũng hành Bồ đề hạnh. Nếu tiếng vọng nơi hang núi hành Bồ đề hạnh thì tôi cũng hành Bồ đề hạnh.

Vua Đại Phạm nghe xong, thưa Bồ tát rằng:

Do y vào nghĩa nào mà nói lời này?

Đáp rằng: Thưa Phạm vương! Không có một pháp nào là thật tướng cả, chỉ do nhân duyên mà được thành”.

Một Bồ tát đã nhập pháp giới, đã ở trong pháp giới, thì thấy Bồ đề hạnh, tức là Bồ tát hạnh, của mình như là:

- như trăng trong nước, thấy có xuất hiện nhưng không có thật.

- như việc làm trong mộng, có xuất hiện nhưng thật không có ai làm và làm cho ai.

- như sóng nắng. Trời nóng tạo ra những dợn sóng nắng. Người không biết tưởng là nước nhưng người hiểu nó thì biết đó không phải là nước mà chỉ là những dợn sóng nắng, nước không có thật.

- như tiếng vang vọng ở hang núi, xa xôi và không biết phát xuất từ đâu.

Tóm lại, một Bồ tát y vào pháp giới mà hành Bồ đề hạnh thì thấy mọi sự, mọi việc làm đều như huyễn, như mộng, không từ ai và dành cho ai, không dính dáng gì đến thế giới năm uẩnchúng sanh trong đó. Thế nên hành động (hành động là karma, nghiệp) mà không gây ra nghiệp, dù là nghiệp tốt.

Vì ở trong pháp giới nên không thấy có cái gì là thật, là thật tướng, dù đó là pháp thiện cao cấp nhất, là “trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh”. Tất cả các pháp đều do nhân duyên mà được thành, nhưng nhân duyên được nhìn bằng trí huệ bát nhã, nhân duyên cũng như trăng trong nước, như hình ảnh thấy trong mộng, như sóng nắng, như tiếng vang vọng từ hang núi.

Làm mà thật ra không làm, vì không có “ta, người, chúng sanh, thọ mạng”, đó là hạnh Bồ tát. Đó gọi là “Y vào pháp giới thực hành pháp Bồ đề, tu hạnh bình đẳng”.

Phạm vương nói: Nếu như vậy thì các phàm phu đều đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?

Đáp rằng: Ngài nói như vậy là với ý gì? (Phàm phu thì cho) người ngu khác, người trí khác, bồ đề khác, chẳng phải bồ đề khác, giải thoát khác, chẳng phải giải thoát khác.

Thưa Phạm vương! Các pháp như vậy bình đẳng không khác. Nơi pháp giới chân như đây, chẳng phải một chẳng phải khác, không có trung gian để có thể bám chấp, không tăng không giảm.

Thưa Phạm vương! Ví như vị thầy huyễn thuật và các học trò, ở ngã tư, lấy đất cát cỏ cây... gom lại rồi làm các huyễn thuật biến hóa... Mọi người không biết đều cho các thứ ấy là có thật. Người có trí thì không như vậy, hiểu gốc của huyễn, biết đó chỉ là việc huyễn, chỉ là hư vọng.

Thế nên người trí biết tất cả pháp đều không có thực thể, chỉ theo cái thấy cái nghe của thế tục mà nói ra như vậy, suy nghĩ cho kỹ thì không phải như thế, lại nhờ giả danh để hiểu thật nghĩa.

Thưa Phạm vương! Chúng sanh ngu muội, chưa được mắt huệ của thánh xuất thế, chưa biết tất cả pháp là chân như nên chẳng thể nói. Những phàm phu ấy hoặc thấy hoặc nghe pháp có hành chuyển và pháp chẳng hành chuyển, rồi tu duy theo đó bèn sanh bám chấp mà cho là có thật. Trong Đệ nhất nghĩa, họ không thể rõ biết các pháp chân như là chẳng thể nói.

Còn các bậc thánh, hoặc thấy hoặc nghe pháp hành chuyển và pháp chẳng hành chuyển, thì tùy trí lực mà chẳng sanh bám chấp cho là thật có. Rõ biết tất cả không thậtpháp hành chuyển, không thật có pháp chẳng phải hành chuyển, chỉ vọng tưởng suy nghĩ thành ra có tướng hành chuyển và tướng chẳng hành chuyển, chỉ có danh tự, không có thật thể. Các thánh nhân ấy tùy theo thế tục mà nói, khiến cho người khác biết nghĩa chân thật.

Như vậy, thưa Phạm vương! Các thánh nhân này dùng cái thấy biết của bậc thánh,pháp chân như là không thể nói, pháp hành chuyển hay pháp chẳng phải hành chuyển cũng như vậy. Vì khiến người khác chứng biết nên nói vô số lời nói danh tự thế tục”.

Thế gianchúng sanh như trò huyễn thuật biến ra, điều này được nói nhiều trong các kinh thuộc hệ thống Bát nhã và cũng được nói trong các kinh thuộc hệ thống Duy thức.

Hệ Bát nhã khai thác nhiều về tánh Không của tất cả các pháp. Hệ Duy thức chú tâm vào thức, tác nhân chính tạo ra, biến hóa ra tất cả trò huyễn thuật thế gian. Cả hai hệ đều đồng ý thực tại rốt ráoChân Như.

Ở đây, “biết tất cả pháp đều không thực thể”, đó là thấy biết các pháp như huyễn thuật.

Đoạn kinh này dạy làm thế nào để vượt khỏi các cực đoan ở mọi tầng của con người.

- ở tầng thân thể - vật lý, đó là sự tách biệt giữa hành chuyển (chuyển động) và chẳng hành chuyển (bất động). Máy bay thì chuyển động, không gian thì không chuyển động, làm việc thì chuyển động, không làm việc là không chuyển động...

- ở tầng ý thức - cảm xúc, đó là ý tưởng thì chuyển động, bản tâm thì không chuyển động; cảm xúc thì có khởi, bản tánh của tâm thì không khởi.

- ở tầng tâm linh, cái không chuyển động là Niết bàn, cái chuyển động là sanh tử.

Kinh nói, “chỉ vọng tưởng suy nghĩ thành ra có tướng chuyển động và tướng chẳng chuyển động”. Tâm thức đã tạo ra những vọng tưởng từ thô nặng nhất đến vi tế nhất, nên để giải quyết những vọng tưởng ấy, Duy thức tông đã đề ra pháp thiền quán, “Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức”. Hệ Đại Bát nhã đề ra pháp thiền quán, “Tất cả pháp đều Không”.

Đoạn kinh hỏi - đáp của Vua trời Đại Phạm với Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu chấm dứt như sau:

Bấy giờ Đại Phạm vương hỏi Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu rằng: Có bao nhiêu chúng sanh có thể hiểu chánh pháp rất sâu như thế này?

Đáp rằng: Thưa Phạm vương! Các người huyễn có tâm và tâm sở đều có thể hiểu chánh pháp rất sâu như vậy.

Phạm vương nói: Những người huyễn hóa ấy, thể là chẳng phải có thì tâm sở này từ đâu mà sanh?

Đáp rằng: Nếu biết pháp giới chẳng phải có chẳng phải không có, những chúng sanh như vậy có thể hiểu nghĩa sâu xa này.

Bấy giờ, Phạm vương bạch Phật:

Bạch Thế Tôn, Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu này thật không thể nghĩ bàn, thông đạt nghĩa rất sâu như vậy.

Đức Phật bảo:

Đúng vậy, đúng vậy! Này Phạm vương, như lời ông nói. Bồ tát Như Ý Bảo Quang Diệu này đã từ lâu dạy các ông phát tâm tu học Vô sanh pháp nhẫn”.