24
TÙY DUYÊN THUẬN PHÁP
I. DẪN NHẬP
Trong câu chuyện hằng ngày, thỉnh thoảng chúng tôi có nghe một vài thiền sinh nhắc đến cụm từ “Vạn pháp tùy duyên”, có khi lại nghe câu “… cứ để cho các pháp tự vận hành rồi đâu cũng vào đấy! ” hoặc “Tùy duyên thuận pháp”. Những câu nói này không phải là những câu nói cho qua chuyện, khi mình gặp một vấn đề nan giải nào đó xảy ra trong đời sống hằng ngày, mà thực ra đó là những câu nói liên quan đến vấn đề tu học của những người con Phật. Hôm nay, chúng tôi chọn cụm từ “Tùy Duyên Thuận Pháp” để chia sẻ ý nghĩa cùng nói lên sự lợi ích trong việc tu tập pháp này. Các cụm từ vừa nêu trên về mặt ý nghĩa cũng gần giống nhau. Hiểu một, sẽ hiểu được luôn cả ba không khó!
“Tùy duyên thuận pháp” gồm bốn chữ nhưng có hai vế: Vế thứ nhất là “Tùy duyên”, vế thứ nhì là “Thuận pháp”. Duyên là “điều kiện” là “pháp” bên ngoài tác động vào hành giả. Còn thuận pháp là phản ứng chấp nhận pháp, khi hành giả giáp mặt với bất cứ loại duyên nào xảy đến với mình!
II. TÙY DUYÊN LÀ GÌ?
- Tùy: Có nghĩa là căn cứ vào, phụ thuộc vào, dựa vào. (Thí dụ tùy cơ ứng biến, tùy theo tình hình mà đối phó hành động, dựa theo tình thế mà làm cho phù hợp.)
- Duyên: Là một trong những thuật ngữ quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Duyên thường đi đôi với chữ Nhân gọi là “Nhân Duyên”. Nhân duyên này có nghĩa là điều kiện hay yếu tố thành lập một sự kiện, tức một pháp nào đó!
Thí dụ như bài kinh “Vô Ngã Tướng” dạy con người do năm uẩn lập thành. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mỗi uẩn này là một điều kiện, một yếu tố gọi là duyên. Như trong Giáo lý “Duyên Khởi Duyên Sinh”, đức Phật dạy “Các pháp hiện hữu trên thế gian do nhiều điều kiện hợp lại mà thành”. Điều kiện này chính là duyên. Hoặc trong bài “Mười Hai Nhân Duyên” (Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Già, Chết). Mười hai nhân duyên là 12 mắt xích dính liền tạo thành một vòng tròn không lối thoát gọi là bánh xe luân hồi. Bắt đầu là Vô minh duyên Hành. Hành duyên Thức. Thức duyên Danh Sắc v.v… Duyên ở đây có nghĩa là nguyên nhân sinh khởi. Chúng ta có thể hiểu rằng Vô Minh là nguyên nhân sinh ra Hành. Hành là nguyên nhân sinh ra Thức v.v…
Duyên cũng đứng giữa hai từ Nhân và Quả. Trong cụm từ “Nhân-Duyên-Quả”, Nhân là yếu tố chính, là những gì có năng lực sinh khởi. Duyên là những tác nhân phụ, xem như là những điều kiện, là chất xúc tác, giúp cho Nhân chính phát sanh. Khi Nhân và Duyên kết hợp đầy đủ, chín muồi, thì Quả xuất hiện. Tùy theo tính cách của Nghiệp Duyên mà trổ Quả tốt lành, an lạc, hạnh phúc, hay Quả xấu ác, phiền não, khổ đau.
Ví dụ: Hạt mầm trong nhụy hoa cúc là “Nhân chính”, các điều kiện liên quan như đất, nước, thời tiết, ánh nắng mặt trời, sự chăm sóc của con người, thuật ngữ gọi những yếu tố này là “Nhân phụ” gọi là “Duyên”. Khi nhân-duyên chín muồi, hạt mầm mọc thành thân cây. Thân cây cao lớn đủ sức tặng cho đời những đóa hoa sắc màu xinh đẹp. Những đóa hoa này chính là “Quả” mà người trồng gặt hái được.
Như vậy Duyên có nghĩa chung là điều kiện hay nhân tố hỗ tương cho sự sống.
- Tùy duyên: Là dựa vào duyên mà xử lý mọi chuyện thích hợp với hoàn cảnh do duyên tạo ra.
Thí dụ: Như hôm nay chúng ta đang có buổi sinh hoạt. Tùy vào buổi sinh hoạt đông hay ít người, thời gian cho phép dài hay ngắn, trình độ lớp học ra sao? Mình sẽ tùy vào hoàn cảnh (là duyên) cho phép, mà chương trình sinh hoạt dài hay ngắn, cao hay thấp, sao cho thích hợp với hoàn cảnh. Đó là “tùy duyên”.
Thí dụ khác: Hôm nay ta không thấy khỏe trong người, thì tùy vào sức khỏe mà không làm việc quá sức, hoặc nếu cần thì nghỉ ngơi để khi khỏe lại sẽ tiếp tục công việc. Sức khỏe là “duyên”. Duyên không tốt, nên chọn cách nghỉ ngơi. “Nghỉ ngơi” là hành động hợp lý khi hoàn cảnh sức khỏe không cho phép. Nghỉ ngơi là “tùy duyên” mà hành động hợp lý.
Hoặc: “Trước kia, hằng tuần đạo tràng chúng ta sinh hoạt tại thiền đường. Thời gian qua, vì tình trạng bệnh dịch lan tràn. Bệnh dịch lan tràn là “duyên bên ngoài” khiến thiền sinh không thể đến thiền đường để sinh hoạt. Ban tổ chức chọn giải pháp liên lạc với nhau qua hệ thống Google zoom. Việc chọn giải pháp thứ hai này là hành động “tùy duyên”, tức là tùy theo cái duyên bệnh dịch gây ra, mà thay đổi nơi sinh hoạt.
Tóm lại “tùy duyên” là gặp hoàn cảnh nào thì “tùy theo hoàn cảnh” đó mà xử lý thích hợp. Gặp “môi trường” nào thì “tùy môi trường” đó mà ứng biến thích nghi. Ở trong “trạng thái nào” thì “tùy vào trạng thái đó” mà sống sao cho phù hợp và đúng tốt, thì đó là “tùy duyên”.
Qua định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra bài học về “Tùy duyên”. Không phải nói “tùy duyên” là chúng ta phó mặc, buông xuôi tất cả mọi sự việc xảy ra trong đời sống của chúng ta. Tốt cũng được, xấu cũng được. Giỏi cũng được, dở cũng được. Ta không quan tâm! Tùy duyên không phải là buông thả cuộc đời, mặc cho dòng nước cuốn trôi đời mình đi đâu thì đi, mặc kệ! Tinh thần tùy duyên không phải như thế!
Là người học Phật, ta nên biết “tùy duyên” là cơ hội để ta thực tập giữ tâm bình tỉnh, xem nhẹ được-mất, hơn-thua, cao sang - nghèo hèn, danh giá-khổ nhục. Nhờ vậy mà tâm chúng ta được bình ổn trước những cơn thịnh nộ hay dịu dàng từ những trận gió thế gian bất ngờ ập tới! Tùy duyên như thế mới là tùy duyên một cách sáng suốt, có trí tuệ, của người học Phật!
III. THUẬN PHÁP LÀ GÌ ?
- Thuận: Có nghĩa là bằng lòng, chấp nhận, đồng tình, xuôi theo, noi theo, thích hợp, vừa lòng, thuận ý, hài hòa. Khác với thuận là nghịch hay ngược.
- Pháp: Tiếng Pali là Dhamma, tiếng Sanskrit là Dharma. Tùy theo ngữ cảnh mà Pháp mang ý nghĩa khác nhau.
Pháp là tất cả mọi sự vật cụ thể hay trừu tượng trên thế gian như: Con người, con vật, thời gian giờ giấc, không gian bốn mùa, nóng, lạnh, mưa gió… hay các sự kiện, tập quán, luật lệ, thói quen, phép cư xử, bổn phận, nghĩa vụ, việc thiện, việc ác, đức hạnh hay các đối tượng của tâm ý (gọi là pháp trần).
Pháp (viết hoa) là những lời dạy của đức Phật bao gồm Kinh-Luật-Luận. Nếu hữu hình gọi là sắc pháp. Vô hình gọi là tâm pháp. Có thể tánh (kết hợp giữa hai giống đực cái ) gọi là hữu pháp. Không thể tánh gọi là vô pháp. Các pháp bao gồm: Sắc pháp, tâm pháp, hữu pháp, vô pháp, gọi là chung là Pháp giới. (*)
- Thuận pháp: Có nghĩa là pháp tốt hay xấu tác động đến mình, mình chấp nhận, thuận theo. Thuận theo bằng cách có “nhận thức trung thực đúng đắn về pháp này”, đồng thời có thái độ ứng xử thích hợp. Đó gọi là thuận pháp. Ngược lại, nếu mê man thưởng thức hay chống đối phản kháng bằng ý nghĩ, hành động thuận theo bản ngã mình thì đó là “bất thuận pháp”.
IV. SỐNG “TÙY DUYÊN THUẬN PHÁP”
Về phương diện đời sống của con người, ai cũng biết cuộc đời luôn có hai mặt: Thành công-thất bại, hạnh phúc-đau khổ, đúng-sai, đẹp-xấu, yêu thích-ghét bỏ v.v… Tùy lúc, tùy thời khi duyên xuất hiện tác động vào đời sống của mỗi người, chúng ta không thể chọn lựa mặt này mà bỏ mặt kia. Nhất là khi duyên tới từ mặt nghiệp quả. Duyên đến như thế nào mình chấp nhận như thế đó! Duyên tốt thì mình trân trọng. Duyên xấu thì mình phải tự hiểu đó là do lỗi lầm của mình gây ra, cần phải điều chỉnh cuộc sống sao cho tốt hơn.
Trường hợp, khi thuận duyên đến, như sự thành công trong nghề nghiệp, tiền bạc dồi dào, con cái đổ đạt, gia đình hạnh phúc v.v… chúng ta đừng quá sung sướng hưởng thụ phúc lộc mà quên lời Phật dạy “các pháp hữu vi đều vô thường”. Trong thời gian hưởng thụ phước do nghiệp đãi, nếu không lo bồi thêm phước mới. Đến khi phước củ xài hết, mà nhân mới là nhân xấu, tương lai nghiệp trổ sẽ khiến mình khổ sở vô cùng.
Còn như bị duyên xấu đến, khiến ta gặp nhiều chuyện trái ngang, đổ vỡ, phiền muộn, đau khổ. Gặp duyên này thì đừng quá thất vọng, bi quan, chán nản. Đây có thể là do nhân xấu mình đã tạo trước kia, bây giờ phải gánh chịu. Có phản kháng cũng không ích lợi gì, nên cố gắng, nhẫn nại vượt qua thời gian khó khăn. Thời gian chịu khổ dài hay ngắn là do nghiệp mình gây ra nặng hay nhẹ mà thôi!
Nói thế không có nghĩa là mình buông xuôi thả lỏng mọi chuyện. Là người học Phật, chúng ta nên chấp nhận duyên xấu hay duyên tốt với tinh thần tích cực. Tích cực là hiểu biết luật “Nhân Quả”. Con người sinh ra và sống trong Nhân Quả thì khó mà trốn tránh được hậu quả những gì mình đã gây ra . Thay vì chán nản buồn khổ, khiến cho cuộc sống mỗi lúc, mỗi thêm rối ren đen tối, thì chúng ta có thể chuyển nghiệp xấu thành tốt bằng cách nghĩ lành, làm lành, tạo nhân tốt cho mai sau. Hoặc khi duyên lành tới, trong lúc hưởng thụ cũng đừng quên các pháp vốn “vô thường, khổ, vô ngã” mà sống sao cho tốt với chính mình và với mọi người, mọi loài xung quanh.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần biết rằng “Tùy duyên” là các pháp phụ thuộc bên ngoài. Còn “Thuận pháp” là Nhân. Nhân mới là chủ yếu bên trong tâm của chúng ta. Khi duyên xuất hiện tác động đến ta, điều quan trọng là phản ứng của tâm ra sao? Chúng ta có bình tỉnh thấy biết như thật về duyên đó nên tâm bình thản. Hay là chúng ta mê man hưởng thụ? Nếu mê man thích thú hưởng thụ, thì bấy giờ tâm ta đã khởi “Nhân tham”. Còn như bực bội khó chịu là chúng ta đang khởi “Nhân sân”. Tâm tham lam, sân hận, là hai thứ lậu hoặc, ô nhiễm mang sự lo âu, sợ hãi, khổ đau đến cho con người.
Tóm lại, người gặp hoàn cảnh khó khăn trở ngại, hoặc dễ dàng suông sẻ, tâm không bị dao động, gặp khổ không lo sợ, gặp vui không chìm đắm, đó là người có tu tập, có trí tuệ vậy!
V. LÀM SAO ĐỂ
“SỐNG TÙY DUYÊN THUẬN PHÁP”?
Người “Sống Tùy Duyên Thuận Pháp” là người có tu tập theo lời Phật dạy. Một trong những pháp người đó thực hành là giữ chánh niệm trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, hay trong lúc làm bất cứ điều gì, cũng làm trong chánh niệm. Đó là phương thức hành Thiền Vipassana trong mọi lúc mọi thời.
Chúng ta có thể tu tập theo Pháp Như Thật (Yathà bhùta). (**) Pháp Như Thật là phương thức thực hành để có cái Biết phù hợp với sự thực nhằm chuyển hóa tâm lao xao, loạn động, chủ quan sang tĩnh lặng, thanh thản, khách quan. Pháp này thuộc về thiền Huệ. Tuy lậu hoặc, tập khí, kiết sử, tùy miên vẫn còn nhưng bị cô lập không khởi lên thành tạp niệm (vọng tưởng).
Khi thực tập pháp này, hành giả phải xử dụng giác quan và phải có đối tượng. Nếu không xử dụng giác quan tiếp xúc ngay với đối tượng (tức tiếp xúc duyên) thì cái Biết sẽ rơi vào Tâm ba thời bất khả đắc là: Quá khứ (ý căn), hiện tại (ý thức), vị lai (trí năng), và vì thế hành giả đang sống trong cái tâm ảo tưởng mất chánh niệm.
Trong kinh “Nhất Dạ Hiền Giả” đức Phật dặn dò: “Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ Quán chính là đây…”. Kinh Kim Cang cũng dạy: “Quá khứ, hiện tại, tương lai bất khả đắc. Chỉ có bây giờ và ở đây”. Nội dung hai đoạn kinh này, không ngoài mục đích nhắc nhở người tu tập ở trong hoàn cảnh nào cũng không được thất niệm!
Thực hành Pháp Như Thật thường xuyên giúp hành giả an trú trong chánh niệm tức có cái Biết rõ ràng, trong sáng, khách quan trên đối tượng (pháp hay duyên). Hành giả không có phản ứng thuận (thích) hay nghịch (không thích) đối với pháp mà chỉ thấy cái đang là của pháp, tức pháp như thế nào thấy biết như thế ấy, nên pháp không tác động được vào cảm thọ của hành giả. Và vì vậy, tâm hành giả không tạo thêm “Nhân mới” khi tiếp xúc với thiện duyên hay ác duyên.
Nhờ công phu tu tập hành trì qua pháp Quán Như Thật, mà hành giả tuệ tri được bản chất “vô thường, khổ, vô ngã” của vạn duyên, sẽ không dễ dàng bị quyến rủ bởi vật chất, khi duyên tốt đến thăm, và vượt qua nỗi ưu sầu, phiền não, khi bị duyên xấu tấn công. Từ đó hành giả giữ được sự cân bằng trong đời sống hằng ngày để có thể tiếp tục tiến xa hơn trên con đường tu tập tâm linh hướng đến giải thoát giác ngộ./.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Nữ Hằng Như
(Thiền thất Chân Tâm, 13/5/2023)
Tài liệu:
(*) Phật Quang Đại Tự Điển, Tự điển Phật học Tuệ Quang
(**) Xem thêm: Sách “Trên Đường Về Nhà”, Chương: Thiền Huệ - Pháp Như Thật”. TNHN, Ananda Viet Foundation xuất bản. Amazon tổng phát hành.