Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 & Mike Austin
VẦNG SÁNG TỪ PHƯƠNG ĐÔNG
Thích Nhuận Châu dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
Nhà xuất bản Lao Động
NHỊ ĐẾ
MIKE AUSTIN: Xin ngài trình bày về hai loại chân lý: chân lý tuyệt đối và chân lý quy ước. Chúng là gì, và vận hành như thế nào?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Điều này rất quan trọng. Lấy cái bàn này làm thí dụ. Nếu người ta tìm kiếm đối tượng thể hiện - tự thân cái bàn - thì không thể nào tìm ra được. Nếu người ta chia cái bàn ra từng phần theo ý nghĩa chiều kích vật thể hoặc theo phẩm tính chất lượng, thì không thể nào tìm ra được tính chất tổng thể cái bàn là gì.
Thực vậy, đối với tâm thức chúng ta, có sự phân biệt rõ ràng giữa toàn thể và từng phần khi chúng xuất hiện trước chúng ta, dường như cái toàn thể tách biệt với từng phần - các phần tách biệt với toàn thể.
Tuy nhiên, thực tế lại không phải vậy. Bây giờ, khi khảo sát theo hướng này, chúng ta sẽ không bao giờ thấy được cái bàn. Dù vậy, sự không tìm thấy này không có nghĩa là cái bàn không hiện hữu. Chúng ta đang sử dụng nó, đúng không? Nhưng nếu chúng ta tìm kiếm, thì chúng ta không thấy nó.
Thế nên có hai cách thức tồn tại của cái bàn. Một là sự thừa nhận “cái bàn” bằng tâm thức mà không cần phải phân tích, và “cái bàn” chỉ hiện hữu theo quy ước. Loại “cái bàn” ấy chỉ được tìm thấy trong dạng tâm thức ấy. Tuy nhiên, nếu bạn xem “cái bàn” như là một đối tượng, nếu bạn không hài lòng với chỉ cái vật thể mà bạn đặt tay lên, mà tìm kiếm để khám phá xem nó thực sự là gì trong các phần - hoặc phần này là “cái bàn”, hay phần kia là “cái bàn” - thì sẽ không có bất cứ điều gì có thể tìm thấy được là “cái bàn”. Tại sao có sự không tìm thấy cái bàn? Vì “cái bàn” là một cái gì đó mà nếu tìm kiếm bằng phân tích sẽ không thể thấy được.
Bây giờ tâm thức khám phá được gì qua việc tìm kiếm “cái bàn” trong những bộ phận của nó? Chỉ tìm thấy được sự không tìm thấy cái bàn. Chính tự thân sự không tìm thấy này là một tính chất của cái bàn, là tính chất cơ bản, nền tảng của nó. Sự không tìm thấy này là bản chất tối hậu của cái bàn. Những gì vi tế hơn không hiện hữu. Do vậy, đây chính là phương thức tuyệt đối hay tối hậu để thiết lập nên thực thể gọi là “cái bàn”.
Kiểu tồn tại này được tìm thấy trên phương diện đồng nhất “cái bàn” và tính chất cơ bản, nền tảng của nó. Do vậy, sự không tìm thấy của cái bàn là kiểu tồn tại thực sự của cái bàn.
Như vậy, dựa trên một cơ sở, cái bàn có hai bản tính: một được tìm thấy bởi tâm không phân tích, và một được tìm thấy bởi tâm phân tích. Rồi dựa trên một cơ sở khác, có một đối tượng được tìm thấy bởi tâm thức phân biệt thực tại tuyệt đối và một đối tượng được tìm thấy bởi tâm thức phân biệt theo quy ước. Vì thế nên nói rằng: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Hai điều này loại trừ lẫn nhau. Hai sự thực ấy chỉ là một thực thể nhưng chúng loại trừ lẫn nhau.
MIKE AUSTIN: Loại trừ lẫn nhau như thế nào?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Về mặt hiện tượng, cái gì là chân lý tuyệt đối thì chẳng phải là chân lý quy ước và ngược lại.
MIKE AUSTIN: Vậy sẽ là sai lầm khi nói rằng chúng khẳng định lẫn nhau?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Cái này không khẳng định cái kia. Dù vậy, nếu bạn dựa vào thực tại tuyệt đối hoặc tánh không của cái bàn như là nền tảng và tìm kiếm xem nó có thể tìm được không, thì nó sẽ trở thành chân lý quy ước theo nghĩa chính nó là nền tảng đó. Trong mối tương quan với cái bàn, tánh không của nó là một chân lý tuyệt đối, nhưng trong tương quan với thực tại của chính nó, có nghĩa là thực tại của thực tại, thì đó là chân lý quy ước.
Nếu có cái gì đó là phương thức hiện hữu của chính nó thì thật mâu thuẫn! Do vậy, thực tại của một cái gì đó không phải là thực tại của chính nó. Điều này là bởi vì khi thực tại được tìm kiếm, khi bản chất của sự vật được tìm kiếm, thì cũng đều không thể tìm được.
MIKE AUSTIN: Khi tánh không lần đầu tiên trình hiện trong tâm, nó như thế nào?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Cho dù thuật ngữ pháp tánh không có ý phủ định chút nào trong đó, nhưng khi điều đó - thể tính hay thực tại của hiện tượng - trình hiện trong tâm, thì nó phải trình hiện qua cội nguồn của sự phủ định. Sự phân biệt này rất quan trọng.
Tôi sẽ trình bày trong ngữ cảnh về Nhị đế được đề ra trong tác phẩm Căn bản Trung quán luận tụng của ngài Long Thụ. Phải chăng khi tồn tại trên cơ sở tự tính được tìm ra, nó chẳng được lập thành bởi vì nó không tồn tại, hoặc dù nó tồn tại, nó cũng không được tìm thấy bởi vì nó không thể nào có được dưới sự phân tích? Chính là điều thứ nhất. Khi bạn quán sát cách thức sự vật trình hiện trong tâm thức mình, thấy chúng xuất hiện như thể chúng được tìm thấy bằng sự phân tích. Do vậy, nếu hiện tượng tồn tại như cách chúng trình hiện trong tâm chúng ta, thì khi bạn quán sát chúng, chúng sẽ càng trở nên rõ ràng hơn. Thực tế là chúng không như vậy, mà là một dấu hiệu rằng chúng không tồn tại như cách chúng trình hiện. Nói tóm tắt, dù chúng trình hiện như chúng tồn tại trên cơ sở tự tính, chúng vẫn không hiện hữu theo phương thức ấy.
Trong tâm bạn ban đầu đã có cảm giác rằng đối tượng không hiện hữu theo cách nó đang trình hiện. Khi bạn quen với suy nghĩ này rồi, cuối cùng bạn sẽ có sự khẳng định rằng đối tượng không tồn tại chút nào theo cách chúng đang trình hiện. Ngay lúc đó, cảm nhận riêng của bạn về sự trình hiện là một kinh nghiệm về sự trống rỗng, vốn chỉ đơn giản là không có sự tồn tại trên cơ sở tự tính.
Ngay khởi đầu của tiến trình này, đối tượng - cái này vốn là không - có thể vẫn trình hiện. Theo cách dễ hiểu, như khi xem phim, bạn có thể phân biệt hai thời gian khác nhau. Trong cả hai trường hợp, hình ảnh đều xuất hiện qua nhãn thức bạn. Nhưng trong trường hợp thứ nhất, người ta chỉ quan sát hình ảnh, trong khi với trường hợp thứ hai, bạn luôn có suy tưởng chắc chắn rằng điều này không hề tồn tại như một sự kiện có thực.
Nếu bạn duy trì và phát huy ý tưởng rằng chúng không hiện hữu - nếu bạn tập trung vào tính phi hiện hữu của nó - thì dần dần sự trình hiện sẽ tự biến mất. Điều này là do nơi điều kiện tiên khởi tức thì của nhãn thức sẽ bắt đầu giảm trừ đi. Do vậy, khi bạn bắt đầu khẳng định tánh không, đó chỉ đơn thuần là sự phủ định hay vắng bặt của đối tượng phủ định - sự tồn tại trên cơ sở tự tính được khẳng định. Ngay cả cho dù ban đầu đối tượng vẫn xuất hiện, thì dần dần với sự tập trung vào tánh không, đối tượng sẽ biến mất. Rồi nhờ vào sự quán sát tánh không của đối tượng, nên khi đối tượng tái trình hiện thì bạn sẽ sinh khởi ý tưởng là nó không tồn tại theo như vẻ ngoài của nó.
Đây được gọi là trình hiện như huyễn. Đến mức này bạn có thể chế ngự được phiền não của mình. Những tâm thức mê lầm này không còn cách nào để hiện hành vì không còn sự hỗ trợ của ý niệm tồn tại trên cơ sở tự tính. Dù đối với người sơ cơ, còn có những trường hợp khi ý niệm tồn tại trên cơ sở tự tính hoạt động như một trợ thủ cho tâm thức đúng đắn, nói chung, không cần thiết một tâm thức như vậy phải có sự giúp sức của sự nhầm lẫn về bản tính của sự hiện hữu.
Do vậy, một tâm thức nhận ra rằng đối tượng không tồn tại theo cách riêng của nó sẽ rất có ích để ngăn ngừa sự phát triển phiền não, trong khi đó không làm chướng ngại một tâm thức tốt lành.
MIKE AUSTIN: Trong khoảnh khắc nhận thức được tánh không - khi đối tượng biến mất - cảm giác đó như thế nào?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Tôi chỉ nêu ra một ví dụ
truyền thống. Chẳng hạn, hình chiếu trong gương của một khuôn mặt là
tánh không của cái đang là khuôn mặt, nhưng
tánh không của cái đang là khuôn mặt đó thì không có thực;
tánh không của nó
tồn tại trên cơ sở
tự tính của đối tượng thì có thực. Khi từ trong sâu thẳm của tâm
nhận ra sự vắng bặt dạng
tồn tại của đối tượng, thì đến mức đó, các thức khác không còn được phát huy nữa. Ngay cả
ý niệm “đây là tánh không” cũng không được tạo ra. Nếu bạn có
ý tưởng “đây là tánh không”, thì
tánh không ấy sẽ
xa lìa ngay. Cũng giống như một đối tượng dưới
sự quán sát. Nó sẽ không
đạt đến mức
hiện hữu như một đối tượng có thực của sự lĩnh hội bởi
tâm thức.
MIKE AUSTIN: Thế là có sự biến mất
ý niệm nhị nguyên?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Không, ngay cả ở đây vẫn còn
ý niệm nhị nguyên. Có
ý niệm nhị nguyên của trình hiện từ đối tượng
quy ước cũng như của trình hiện
từ ý niệm về
tánh không.
MIKE AUSTIN: Nếu ngài muốn
mô tả chính
ý niệm về mặt
quy ước, ngài có cho rằng nó
trong sáng, rỗng không,
sống động và toả chiếu hay không?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Điều ấy rất khó
mô tả. Để
giải thích điều này
chính xác thì rất khó. Có nhiều dạng trình hiện
nhị nguyên khác nhau. Một là trình hiện theo
quy ước - đối tượng như
chúng ta thường thấy. Rồi có trình hiện của
tồn tại trên cơ sở
tự tính; cũng có trình hiện của chủ thể và đối tượng như thể khác biệt nhau và trình hiện của một
hình tượng chung -
hình tượng bao trùm mọi đối tượng trong một nhóm đặc thù. Khi người ta đã quen với tâm
trực nhận tánh không -
tu tập và thậm chí đi
xa hơn và vượt lên trên định
đẳng trì - và điều đó
trở thành trực giác; thì đối với
tâm thức ấy các dạng trình hiện
nhị nguyên đều mất sạch.
MIKE AUSTIN: Không có sự chiếu soi
tự nhiên hoặc toả sáng đối với trình hiện
tánh không hay sao?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Không, nhưng về
phương diện thực hành Tan-tra thừa lại là chuyện khác. Đó không phải là từ
quan niệm về
tánh không, mà
từ ý thức. Nhờ vào sự
chuyển hóa các thức thô động hơn mà có nhiều dạng trình hiện khác nhau. Những trình hiện này là kết quả
từ tâm thức
vi tế hơn cũng như sự
liên hệ với thân được
cấu tạo bởi những
thành phần trắng, đỏ, v.v...
MIKE AUSTIN: Xin ngài có thể
mô tả tâm của một đức Phật?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Những điều gì ngăn trở tâm
đạt đến nhất thiết trí được gọi là
sở tri chướng. Về mặt
sở tri chướng, còn có những tiềm năng được
an lập bằng
ý niệm tồn tại trên cơ sở
tự tính, và
nguyên nhân khiến đối tượng
hiện ra như thể chúng
tồn tại trên cơ sở
tự tính hoặc
hiện hữu một cách cụ thể. Cho dù
hiện hữu hư vọng của đối tượng chủ yếu là
sai lầm của chủ thể - thức
nhận biết đối tượng ấy - nhưng cũng có thể có một số
hiện tượng hư vọng của đối tượng là do tự chúng bị
nhiễm ô bởi
vô minh hoặc những tiềm thể của
vô minh. Từ trình hiện này - thuộc đối tượng
tồn tại trên cơ sở
tự tính - có sự
nhiễm ô khiến
nhận thức về
nhị đế là hai
thực thể khác biệt. Do sự
nhiễm ô này, khi
hiện tượng sinh khởi,
chúng dường như
hiện hữu theo cách riêng của chúng, vì thế nên
ngăn cản sự trình
hiện thực tại của chúng.
Tương tự, trong khi
thực tại của đối tượng trình hiện thì chính đối tượng lại không
thể hiện ra.
Chúng ta đang nói về sự
trực nhận.
Tuy nhiên, một khi
sở tri chướng này được loại trừ thì trong lúc
nhận biết một đối tượng người ta có thể biết được
bản chất của chúng, và khi
nhận biết được
bản chất người ta có thể biết được đối tượng. Khi ấy,
tâm thức con người có thể
trực nhận tức thời cả đối tượng và
bản chất của chúng.
Thế nên
nhất thiết trí - từ
quan niệm nhận biết đối tượng
quy ước - là
tâm thức nhận ra được sự đa dạng của mọi
hiện tượng. Từ
quan niệm cái biết của thức về
bản chất của đối tượng, nó là
tâm thức nhận biết phương diện thức
hiện hữu của các đối tượng, có nghĩa là
tánh không. Nhưng đó chỉ là một
tâm thức mà biết được cả hai
phương diện. Đây là khía cạnh
đặc biệt về
nhất thiết trí của
đức Phật.
MIKE AUSTIN: Tại sao
nhất thiết trí tùy thuộc vào sự
giải trừ câu sanh
phiền não thông qua tâm từ?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Động cơ để mong cầu
nhất thiết trí là để cứu giúp người khác. Để làm được như vậy,
chúng ta phải biết cách cứu giúp người khác. Thế nên, không được để cho bất cứ điều gì ngăn trở. Những sự
nhiễm ô làm
chướng ngại tri kiến về những
địa vị tu chứng khác nhau, những điều
quan tâm, v.v... của
hành giả, đều là trở ngại chính của một vị
Bồ Tát. Dù trong bất cứ
trường hợp nào thì
sở tri chướng cũng không bao giờ có ích cho vị
Bồ Tát. Trong khi đó, những trở ngại cho
sự giải thoát, tức là những
phiền não, đôi khi lại có ích trong việc
lợi lạc cho kẻ khác (như khi người
lãnh đạo có nhiều con cái để giúp cho ông ta trong việc cai trị).
Việc
sử dụng nhận thức về
tánh không như sự
đối trị sở tri chướng phụ thuộc rất nhiều vào
nguyện lực. Ngay cả sự
nhận biết về
tánh không trong tiến trình
tương tục của một vị
Thanh văn hay
Độc giác cũng không khác với sự
nhận biết trong tiến trình
tương tục của một
Bồ Tát Đại sĩ, nhưng vị
Bồ Tát có khả năng
đối trị được
sở tri chướng là nhờ vào
nguyện lực và cũng nhờ vào
công đức lớn lao.
Không có cách nào để
sự tích tập trí tuệ dẫn đến
thành tựu vị mà không có
sự tích tập
công đức. Giống như khi bạn muốn đỡ một cây xà nhà, bạn
cần phải dựng lên hai cây cột. Dù bạn không cần cây cột này để dựng lên cây cột kia, nhưng để đỡ cây xà lên thì
nhất thiết phải dùng đến cả hai cây cột. Cũng vậy, để cho
nhận thức về
tánh không trở thành Pháp thân Phật,
nhất thiết phải có đủ những
nguyên nhân thiết yếu để phát sinh một
Sắc thân.
MIKE AUSTIN: Làm thế nào để
phương tiện từ bi và
trí tuệ tánh không được
hoàn toàn đồng nhất với nhau?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Trong
Viên mãn thừa, có sự
mô tả về
trí tuệ và
phương pháp kết hợp. Ví dụ, trước khi
hành giả đi vào tu tập định lực đẳng trì về
tánh không,
hành giả phải
phát nguyện tu tập đạt đến giác ngộ vì
tâm nguyện muốn cứu vớt mọi
chúng sinh. Thế nên
tu tập định lực đẳng trì sẽ được
kết hợp với
nguyện lực là
tâm từ bi. Cũng vậy, khi
hành giả tu tập hạnh
từ bi - như
bố thí,
trì giới.v.v... - thì những điều này phải được
kết hợp với
động lực của tâm
trực nhận tánh không. Thế nên trong
phương pháp này, có sự hợp nhất của
trí tuệ và
phương tiện,
phương diện này
ảnh hưởng đến
phương diện kia.
Trong Man-tra thừa, có sự hợp nhất giữa
phương tiện và
trí tuệ trong
tâm thức, và còn là khía cạnh sâu thẳm hơn về sự hợp nhất trong
Vô thượng Du-già Tan-tra.
MIKE AUSTIN: Trong tâm chư Phật, tính
diệu lạc được hợp nhất với điều này như thế nào?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Vâng, có cảm nhận về
diệu lạc. Trong
tâm niệm của chư Phật, mọi
hiện tượng đều là trình hiện
thanh tịnh, và là trình hiện
diệu lạc.
MIKE AUSTIN: Từ
nhận thức riêng của một vị Phật, liệu hiện nay
đau khổ có
tồn tại trong ngài hay không?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Có, nhưng không phải từ
nhận thức riêng của
đức Phật, mà là do sự
hiện hữu của
đau khổ ở những người
chịu đựng khổ đau.
MIKE AUSTIN: Trình hiện
tồn tại trên cơ sở
tự tính có diễn ra trong
đức Phật không?
ĐẠT-LAI LẠT-MA: Có, nhưng không phải từ
nhận thức riêng của ngài, mà qua cách trình hiện đối với một người chưa
từ bỏ được
sở tri chướng. Sự trình hiện
tồn tại trên cơ sở
tự tính, nói chung là có
hiện hữu. Nếu một
sự kiện nào đó
hiện hữu và nó lại không
hiện hữu đối với
đức Phật thì sẽ là một sự
mâu thuẫn. Do vậy, bất kỳ sự
hiện hữu nào cũng đều có
hiện hữu đối với
đức Phật, nhưng không
nhất thiết phải là từ
nhận thức riêng của ngài. Chính là thông qua
năng lực trình hiện của nó đối với người khác và chỉ qua đó mà nó thực sự trình hiện.