THIỆN PHÚC
NGŨ GIA THẤT TÔNG
YẾU LƯỢC
ESSENTIAL SUMMARIES OF
THE FIVE HOUSES & SEVEN SCHOOLS
QUYỂN I
Copyright © 2024 by Ngoc Tran. All rights reserved.
No part of this work may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying and recording, or by any information storage or retrieval system without the prior written permission of the author, except for the inclusion of brief quotations. However, staff members of Vietnamese temples who want to reprint this work for the benefit of teaching of the Buddhadharma, please contact Ngoc Tran at (714) 778-2832.
Mục Lục Tập I
Table of Content Volume I
Mục Lục—Table of Content
Lời Đầu Sách—Preface
Phần Một—Part One: Đức Phật & Sự Khai Sinh Của Thiền—The Buddha & the Birth of Zen
Chương Một—Chapter One: Đức Phật & Sự Khai Sinh Của Thiền—The Buddha & the Birth of Zen
Chương Hai—Chapter Two: Tổng Quan Về Dòng Truyền Thừa Trong Thiền Tông Ấn Độ—An Overview of Lines of Transmission in Indian Zen School
Chương Ba—Chapter Three: Ma Ha Ca Diếp: Sơ Tổ Thiền Tông Ấn Độ—Mahakashyapa: The First Patriarch of the Indian Zen School
Chương Bốn—Chapter Four: Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ—Twenty-eight Indian Patriarchs
Chương Năm—Chapter Five: Sơ Lược Về Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma—Summaries of the First Patriarch Bodhidharma
Chương Sáu—Chapter Six: Sơ Lược Về Thiền Tông Trung Hoa—Summaries of the Chinese Zen School
Chương Bảy—Chapter Seven: Các Vị Tổ Thiền Tông Trung Hoa—Patriarchs in Chinese Zen Sects
Chương Tám—Chapter Eight: Lục Tổ Huệ Năng—The Sixth Patriarch Hui Neng
Phần Hai—Part Two: Thiền Tông Trung Hoa Trước Thời Ngũ Gia Thất Tông—The Chinese Zen School Before the time of the Five Houses & Seven Schools
Chương Chín—Chapter Nine: Dòng Thiền Nam Tông Của Lục Tổ Huệ Năng-Đời Thứ Bảy Sau Tổ Bồ Đề Đạt Ma—The Sixth Patriarch Hui Neng's Southern Zen School-The Seventh Generation After the First Patriarch Bodhidharma
Chương Mười—Chapter Ten: Phái Thiền Hành Tư—The Hsing Ssu Zen Branch
Chương Mười Một—Chapter Eleven: Phái Thiền Hoài Nhượng—The Huai-Jang Zen Branch
Chương Mười Hai—Chapter Twelve: Phái Thiền Huệ Trung—The Hui Chung Zen Branch
Chương Mười Ba—Chapter Thirteen: Phái Thiền Thần Hội—The Shên-Hui Ho Tse Zen Branch
Phần Ba—Part Three: Sơ Lược Về Quy Ngưỡng Tông—Summaries of the Kuei Yang Tsung
Chương Mười Bốn—Chapter Fourteen: Những Vị Tổ Tiên Phong Của Thiền Phái Quy Ngưỡng—The Pioneer Patriarchs of The Kuei Yang Zen Schools
Chương Mười Lăm—Chapter Fifteen: Tóm Lược Về Quy Ngưỡng Tông—A Summary of the Kuei-Yang-Tsung
Chương Mười Sáu—Chapter Sixteen: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu: Khai Tổ Quy Ngưỡng Tông—Zen Master Kuei Shan Ling-Yu: The Founding Patriarchs of the Kuei Yang Sect
Chương Mười Bảy—Chapter Seventeen: Quy Ngưỡng Tông Đời Thứ Hai: Nối Pháp Thiền Sư Linh Hựu—The Second Generation of the Kuei-yang Tsung: Zen Master Ling-yu's Dharma Heirs
Chương Mười Tám—Chapter Eighteen: Quy Ngưỡng Tông Đời Thứ Ba-Nối Pháp Thiền Sư Huệ Tịch—The Third Generation of the Kuei-yang Tsung-Zen Master Hui-Chi's Dharma Heirs
Chương Mười Chín—Chapter Nineteen: Quy Ngưỡng Tông Đời Thứ Tư-Nối Pháp Thiền Sư Quang Dũng—The Fourth Generation of the Kuei-yang Tsung-Zen Master Nan-T'a Kuang-Yung's Dharma Heirs
Chương Hai Mươi—Chapter Twenty: Quy Ngưỡng Tông Đời Thứ Năm-Nối Pháp Thiền Sư Huệ Thanh Ba Tiêu—The Fifth Generation of the Kuei-yang Tsung-Zen Master Hui-ch'ing Pa-chiao's Dharma Heirs
Phần Bốn—Part Four: Sơ Lược Về Thiền Tông Tào Động Trung Hoa—Summaries of the the Chinese Ts'ao Tung Zen School
Chương Hai Mươi Mốt—Chapter Twenty-One: Những Vị Tổ Tiên Phong Của Thiền Phái Tào Động—The Pioneer Patriarchs of The Ts'ao Tung Zen Schools
Chương Hai Mươi Hai—Chapter Twenty-Two: Thiền Sư Động Sơn Lương Giới (807-869): Khai Tổ Thiền Tông Tào Động—Zen Master Tung-Shan Liang-Chieh: The Founding Patriarch of the Ts'ao Tung Tsung
Chương Hai Mươi Ba—Chapter Twenty-Three: Pháp Ngữ Của Thiền Sư Động Sơn Lương Giới Khai Tổ Thiền Tông Tào Động—Zen Master Tung Shan Liang Chieh's Dharma Talks The Founding Patriarch of the Ts'ao Tung Zen Schoo
Chương Hai Mươi Bốn—Chapter Twenty-Four: Thiền Tông Tào Động Tại Trung Hoa: Sự Phát Triển & Hưng Thịnh—The Tsao-Tung Zen School in China: The Development & Prosperity
Chương Hai Mươi Lăm—Chapter Twenty-Five: Tào Động Mặc Chiếu Thiền—Silent Illumination Zen of the Ts'ao Tung School
Chương Hai Mươi Sáu—Chapter Twenty-Six: Những Dòng Truyền Thừa Và Tổ Sư Của Thiền Phái Tào Động—Lineages of Transmission And Patriarchs of the Ts'ao-Tung Zen School
Chương Hai Mươi Bảy—Chapter Twenty-Seven: Tào Động Tông Đời Thứ Hai Nối Pháp Thiền Sư Lương Giới—The Second Generation of the Ts'ao Tung Tsung Zen Master Liang-Chieh's Dharma Heirs
Chương Hai Mươi Tám—Chapter Twenty-Eight: Pháp Ngữ Của Thiền Sư Tào Sơn Bổn Tịch Nhị Tổ Tào Động Tông—Zen Master Ts’ao-Shan Pen-Chi's Dharma Talks, the Second Patriarch of the Ts'ao Tung Zen School
Chương Hai Mươi Chín—Chapter Twenty-Nine: Tào Động Tông Đời Thứ Ba Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Third Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi—Chapter Thirty: Tào Động Tông Đời Thứ Tư Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Fourth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Mốt—Chapter Thirty-One: Tào Động Tông Đời Thứ Năm Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Fifth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Hai—Chapter Thirty-Two: Tào Động Tông Đời Thứ Sáu Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Sixth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Ba—Chapter Thirty-Three: Tào Động Tông Đời Thứ Bảy Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Seventh Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Bốn—Chapter Thirty-Four: Tào Động Tông Đời Thứ Tám Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Eighth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Lăm—Chapter Thirty-Five: Tào Động Tông Đời Thứ Chín Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Ninth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Sáu—Chapter Thirty-Six: Tào Động Tông Đời Thứ Mười Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Tenth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Bảy—Chapter Thirty-Seven: Tào Động Tông Đời Thứ Mười Một Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Eleventh Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Tám—Chapter Thirty-Eight: Tào Động Tông Đời Thứ Mười Hai Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Twelfth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Chương Ba Mươi Chín—Chapter Thirty-Nine: Tào Động Tông Đời Thứ Mười Ba Tính Từ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới—The Thirteenth Generation of the Ts'ao Tung Tsung Counted from Zen Master Tung Shan Liang-Chieh
Tài Liệu Tham Khảo—References
Lời Đầu Sách
_________________________________
Theo
Phật giáo,
Đức Phật là người đã
đạt được Giác Ngộ và
Niết Bàn qua
thiền tập và
tu tập những phẩm chất như
trí tuệ,
nhẫn nhục,
bố thí.
Con người ấy sẽ không bao giờ
tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử nữa, vì sự nối kết
ràng buộc phàm phu tái sanh đã bị chặt đứt. Thật vậy, qua
tu tập thiền định, chư Phật đã loại trừ tất cả những
tham dục và
nhiễm ô. Vị Phật của
hiền kiếp là Phật
Thích Ca Mâu Ni. Ngài sanh ra với tên là
Tất Đạt Đa trong dòng tộc
Thích Ca. Phật là Đấng
Toàn Giác hay một người đã
giác ngộ viên mãn về
chân tánh của cuộc
sinh tồn. Chữ Phật có nghĩa là tự mình
giác ngộ, đi
giác ngộ cho người, sự
giác ngộ nầy là
viên mãn tối thượng. Từ Buddha” được rút ra
từ ngữ căn tiếng Phạn “Budh” nghĩa là
hiểu rõ, thấy biết hay
tỉnh thức. Phật là người đã
giác ngộ, không còn bị
sanh tử luân hồi và
hoàn toàn giải thoát. Trong
Kinh Châu Báu,
Tiểu Bộ, Tập 6,
Đức Phật dạy: “Phật,
Thế Tôn thù thắng, nói lên lời
tán thán, pháp
Thiền định trong sạch,
liên tục không
gián đoạn. Không gì
sánh bằng được pháp thiền
vi diệu ấy. Như vậy nơi
chánh pháp là
châu báu thù diệu. Mong với
sự thật nầy, được sống chơn
hạnh phúc.”
Như vậy,
Phật tử chân thuần
chúng ta nên biết rằng trong
Phật giáo, thiền làm công việc của một ngọn đuốc đem lại ánh sáng cho một cái tâm u tối. Nói chung, mỗi
tông phái thiền
cung cấp cho
hành giả với loại ánh sáng của nó, nhưng đều giúp cho
hành giả có ánh sáng để thấy được mọi thứ.
Giả như chúng ta đang ở trong một căn phòng
tối tăm với một ngọn đuốc trong tay. Nếu ngọn đuốc quá mờ, hay nếu ngọn đuốc bị gió lay, hay nếu tay
chúng ta không nắm vững ngọn đuốc,
chúng ta sẽ không thấy được cái gì
rõ ràng cả.
Tương tự như vậy, nếu
chúng ta không thiền đúng cách,
chúng ta sẽ không bao giờ có
thể đạt được
trí tuệ có thể xuyên thủng được sự tăm tối của
vô minh để nhìn thấy
bản chất thật sự của cuộc sống và
cuối cùng đi đến chỗ đoạn tận được khổ đau và
phiền não.
Vì vậy,
Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng
thiền chỉ là một
phương tiện, một trong những
phương tiện hay nhất để
đạt được trí huệ trong
đạo Phật.
Sau Tổ
Bồ Đề Đạt Ma, nói
chính xác hơn là sau thời
Lục Tổ Huệ Năng,
ban đầu Thiền Tông Trung Hoa được chia làm
ít nhất 4 phái thiền: Phái
Thiền Hành Tư, Phái Thiền
Hoài Nhượng, Phái
Thiền Huệ Trung, và Phái Thiền
Thần Hội. Rồi sau đó,
Thiền tông Trung Hoa lần nữa lại được chia làm 5 trường phái chính hay
Ngũ Gia Thiền, chỉ cho
giáo pháp riêng biệt được giảng dạy từ những
truyền thống có
liên hệ tới những vị
Thiền sư đặc biệt. Ba trong số năm
truyền thống này:
Tào Động,
Vân Môn, và
Pháp Nhãn,
đi xuống từ
dòng truyền thừa được
truy nguyên ngược về
Thanh Nguyên Hành Tư và
Thạch Đầu Hy Thiên. Hai
truyền thống kia:
Lâm Tế và
Quy Ngưỡng, được
tiếp nối từ
Mã Tổ Đạo Nhất và
Bách Trượng Hoài Hải.
Tông Lâm Tế về sau này lại sản sanh ra hai nhánh
Dương Kỳ và Hoàng Long. Khi mà hai phái sau này được thêm vào
Ngũ Gia thì người ta gọi đó là
Thất Tông.
Thuật ngữ “
Ngũ Gia Thất Tông” được dùng trong
Thiền tông Phật giáo để chỉ những
tông phái chính của
truyền thống Thiền dưới thời nhà Đường. Biểu đồ
Ngũ Gia được tóm lược bởi
Thiền sư Văn Ích.
Ngũ tông là năm
tông phái Thiền của
Phật giáo ở Trung Hoa bắt nguồn từ Nguồn Thiền “Trực chỉ
nhân tâm,
kiến tánh thành Phật” của
Lục Tổ Huệ Năng. Về sau nầy có thêm hai phái sau này là
Dương Kỳ và Hoàng Long. Thứ nhất là
Quy Ngưỡng Tông:
Quy Ngưỡng Tông là một dòng Thiền được
sáng lập bởi hai
đệ tử của ngài
Bách Trượng Hoài Hải. Đời thứ 37 sau Tổ
Ma Ha Ca Diếp,
Thiền Sư Linh Hựu trở thành Sơ Tổ Khai Sáng Tông
Quy Ngưỡng. Quy là chữ đầu của
Quy Sơn Linh Hựu (
đệ tử của ngài Bách Trượng). Ngưỡng là chữ đầu của
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (
đệ tử của ngài
Quy Sơn). Vào giữa thế kỷ thứ mười,
tông phái nầy sáp nhập vào
tông Lâm Tế nên từ đó nó không còn
tồn tại như một
tông phái độc lập nữa. Thứ nhì là
Tào Động Tông: Đời thứ 38 sau
Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
Thiền Sư Động Sơn Lương Giới trở thành Khai Tổ Tào Động Tông.
Truyền thống Tào Động tông Trung Hoa được ngài
Động Sơn Lương Giới cùng
đệ tử của ngài là
Tào Sơn Bổn Tịch sáng lập. Tên của
tông phái lấy từ hai chữ đầu của hai vị
Thiền sư này. Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của phái
Tào Động. Một thuyết cho rằng nó
xuất phát từ chữ đầu trong tên của hai
Thiền sư Trung Quốc là
Tào Sơn Bổn Tịch và
Động Sơn Lương Giới. Một thuyết khác cho rằng đây là trường phái Thiền được
Lục Tổ Huệ Năng khai sáng tại
Tào Khê. Thứ ba là
Lâm Tế Tông: Đời thứ 38 sau
Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
Thiền Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền trở thành Khai Tổ Lâm Tế Tông.
Lâm tế Tông là một trong những trường phái Thiền
nổi tiếng của
trung Quốc được
Thiền sư Lâm Tế sáng lập.
Lâm Tế là
đại đệ tử của
Hoàng Bá. Vào
thời kỳ mà
Phật giáo bị ngược đãi ở
Trung Quốc khoảng từ năm 842 đến năm 845 thì
thiền sư Lâm Tế sáng lập ra phái
thiền Lâm Tế, mang tên ông. Trong những thế kỷ
kế tiếp,
tông Lâm Tế chẳng những
nổi bật về Thiền, mà còn là một
tông phái thiết yếu cho
Phật giáo Trung Hoa thời bấy giờ.
Tông Lâm Tế mang đến cho
Thiền tông một
yếu tố mới:
công án. Phái
Thiền Lâm Tế
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “Đốn Ngộ” và dùng những
phương tiện bất
bình thường như một tiếng hét, một cái tát, hay đánh mạnh vào
thiền sinh cốt làm cho họ
giựt mình tỉnh thức mà
nhận ra chân tánh của mình.
Lâm Tế tông được
sáng lập và xiển dương bởi ngài
Lâm Tế,
pháp tử của
Thiền sư Hoàng Bá Hy Vận. Tại Trung Hoa, tông này có 21 đời
đệ tử truyền thừa, suy thoái dần từ thế kỷ thứ XII, nhưng trước đó đã được mang sang
Nhật Bản và
tiếp tục phát triển
cho đến ngày nay dưới tên gọi là Rinzai. Thứ tư là
Vân Môn Tông: Đời thứ 40 sau
Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
Thiền Sư Văn Yển khai sáng
Vân Môn Tông. Về sau nầy
thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển tập hợp những bài
ca ngợi nổi tiếng kèm theo các
công án mà sau nầy
Viên Ngộ Khắc Cần công bố dưới nhan đề
Bích Nham Lục.
Tuyết Đậu là vị
đại sư cuối cùng của phái
Vân Môn, phái nầy bắt đầu suy thoái từ giữa thế kỷ thứ XI và
cuối cùng tàn lụn
hoàn toàn vào thế kỷ thứ XII. Thứ năm là
Pháp Nhãn Tông: Đời thứ 42 sau
Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
Thiền Sư Pháp Nhãn Văn Ích khai sáng
Pháp Nhãn Tông. Đây là một trong 'Ngũ
Gia Thất Tông', tức là những trường phái lớn thuộc
truyền thống Thiền thật sự. Nó được
Huyền Sa Sư Bị,
môn đồ và người
kế vị pháp của
Tuyết Phong Nghĩa Tồn thành lập.
Lúc đầu phái nầy gọi là
Huyền Sa, theo tên gọi của người
sáng lập. Nhưng sự
vinh quang của
Huyền Sa chẳng bao lâu bị cháu mình là
Pháp Nhãn lấn lướt. Do đó nó có tên là
Pháp Nhãn.
Pháp Nhãn là một trong những
thiền sư quan trọng, có 63 người nối pháp đã giúp
truyền bá pháp của ông đi khắp Trung Hoa và đến tận
Triều Tiên. Trong ba
thế hệ đầu, trường phái nầy đã
trải qua thời kỳ phồn thịnh, nhưng đến
thế hệ thứ năm thì tàn lụn. Thứ sáu là Phái Thiền
Dương Kỳ: Đời thứ 45 sau
Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
Lâm Tế Tông Đời Thứ Tám, khởi điểm của Thiền Phái
Dương Kỳ. Đây là nhánh quan trọng nhất trong hai nhánh thiền
thoát thai từ
thiền Lâm Tế sau khi
Thiền sư Thạch Sương Sở Viện
thị tịch. Trong
truyền thống thiền Lâm Tế người ta gọi nó là
Lâm Tế Dương Kỳ. Phái
Dương Kỳ có nhiều
thiền sư quan trọng, trong đó có Vô Môn Tuệ Khai, người sưu tập bộ
Vô Môn Quan. Sau nầy các
môn đệ của Vô Môn, nhất là Kakushin, đã
du nhập vào
Nhật Bản dòng
thiền Lâm Tế
Dương Kỳ, hiện vẫn còn
tồn tại. Vào cuối thời nhà Tống, khi
Thiền tông bắt đầu suy thoái, dòng
Lâm Tế Dương Kỳ trở thành nơi dung hợp cho tất cả các phái Thiền khác cũng đang
suy yếu và biến mất. Dưới thời nhà Minh,
Thiền hòa lẫn với
Tịnh Độ nên mất đi
tính chất riêng của nó, không còn
tinh thần “tâm truyền tâm” nữa. Thứ bảy là
Hoàng Long Phái: Đời thứ 45 sau
Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
Lâm Tế Tông Đời Thứ Tám, khởi điểm của Thiền Phái Hoàng Long. Nó là một trong bảy phái
thiền đầu tiên được
thiền sư Vinh Tây Minh (1141-1215) đưa vào
Nhật Bản.
Tuy nhiên, nó tàn lụi ở cả Trung Hoa lẫn
Nhật Bản sau vài
thế hệ. Do bắt nguồn từ phái
Lâm Tế nên người ta cũng gọi nó là Lâm Tế-Hoàng Long phái.
Trong số bảy
tông phái Thiền nầy, hai trường phái
Tào Động và
Lâm Tế là nổi trội nhất và vẫn còn
tồn tại cho đến ngày nay. Trong khi
pháp môn của
tông Lâm Tế là bắt tâm của các
môn đồ phải
tìm cách giải quyết một
vấn đề không thể
giải quyết được mà
chúng ta gọi là tham
công án hay
thoại đầu.
Chúng ta có thể xem
pháp môn bí truyền của
tông Lâm Tế rất là
rắc rối, vì lối tham
thoại đầu hay
công án hoàn toàn vượt ra ngoài tầm của kẻ
sơ học. Người ấy bị xô đẩy một cách cốt ý vào bóng tối
tuyệt đối cho đến khi ánh sáng bất ngờ đến được với y.
Trái lại,
pháp môn tu tập của tông
Tào Động là dạy cho
môn đồ cách
quán tâm mình trong tĩnh lặng.
Chúng ta có thể xem
pháp môn của tông
Tào Động là
hiển nhiên hay công truyền. Nếu ngay từ đầu,
môn đồ được
chỉ dẫn thích đáng bởi một vị thầy giỏi,
pháp môn của tông
Tào Động không đến nỗi khó
tu tập cho lắm. Nếu
chúng ta có thể có được những lời dạy
khẩu truyền từ một
thiền sư có
kinh nghiệm thì không sớm thì muộn
chúng ta sẽ học được cách 'quán tâm trong tĩnh lặng' hoặc, nói theo
thuật ngữ Thiền, cách
tu tập loại 'mặc chiếu Thiền'.
Bộ sách 3 quyển có tựa đề “Ngũ
Gia Thất Tông Yếu Lược” này không phải là một
nghiên cứu thâm sâu về
triết thuyết của
Thiền Tông, mà nó chỉ tóm lược về
Ngũ Gia Thất Tông Trung Hoa và Những
Dòng Truyền Thừa cũng
như pháp tu
đặc biệt của từng
tông phái sau sự khai sinh của Thiền tại xứ sở nầy.
Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng
mục đích cuối cùng của người
tu Phật là
giác ngộ và
giải thoát, nghĩa thấy được cách nào để thoát ra khỏi
vòng luân hồi sanh tử ngay trong kiếp này. Chính vì thế mà mặc dù
hiện tại đã có quá nhiều sách viết về
Phật giáo, tôi cũng mạo muội
biên soạn bộ “Ngũ
Gia Thất Tông Yếu Lược” song ngữ Việt Anh nhằm
giới thiệu một cách khái quát về buổi sơ thời của
Thiền Tông, một trong những
tông phái quan trọng nhất trong
Phật Giáo. Những mong sự đóng góp nhoi nầy sẽ mang lại
lợi lạc cho những ai mong cầu có được cuộc sống
an bình,
tỉnh thức và
hạnh phúc.
Cẩn đề,
Thiện Phúc
Preface
____________________________________
According to Buddhism, a Buddha is one who attains Enlightenment and Nirvana through meditative practice and the cultivation of such qualities as wisdom, patience, and generosity. Such a person will never again be reborn within cyclic existence, as all the cognitive ties that bind ordinary beings to continued rebirth have been severed. As a matter of fact, through their meditative practice, buddhas have eliminated all craving, and defilements. The Buddha of the present era is referred to as “Sakyamuni” (Sage of the Sakya). He was born Siddhartha Gautama, a member of the Sakya clan. The Buddha is One awakened or enlightened to the true nature of existence. The word Buddha is the name for one who has been enlightened, who brings enlightenment to others, whose enlightened practice is complete and ultimate. The term Buddha derived from the Sanskrit verb root “Budh” meaning to understand, to be aware of, or to awake. It describes a person who has achieved the enlightenment that leads to release from the cycle of birth and death and has thereby attained complete liberation. In the Ratana Sutta, Khuddakapatha, volume 6, the Buddha taught: “What the excellent Awakened One extolled as pure and called the concentration of unmediated knowing. No equal to that concentration can be found. This, too, is an exquisite treasure in the Dhamma. By this truth may there be well-being.”
Therefore, we, devout Buddhists, should know that in Buddhism, meditation functions the job of a torch which gives light to a dark mind. Generally speaking, each Zen school supplies practitioners with its own light, but it can help practitioners to see everything. Suppose we are in a dark room with a torch in hand. If the light of the torch is too dim, or if the flame of the torch is disturbed by drafts of air, or if the hand holding the torch is unsteady, it’s impossible to see anything clearly. Similarly, if we don’t meditate correctly, we can’t never obtain the wisdom that can penetrate the darkness of ignorance and see into the real nature of existence, and eventually cut off all sufferings and afflictions. Therefore, sincere Buddhists should always remember that meditation is only a means, one of the best means to obtain wisdom in Buddhism.
After Bodhidharma Patriarch, speaking more exactly, after the time of the Sixth Patriarch Hui Neng, the Chinese Zen School was divided into at least four schools: the Hsing Ssu Zen School, the Huai-Jang Zen School, the Hui Chung Zen School, and the Sheân-Hui Ho Tse Zen School. Then, later, the Chinese Zen School was again divided into five main sects or the Five Houses of Zen which refer to separate teaching lines that evolved from the traditions associated with specific masters. Three of these traditions, Ts'ao-tung, Yun-men, and Fa-yan, descended from the transmission line traced back to Ch'ing-yuan Hsing-ssu and Shih-t'ou Hsi ch'ien. The other two, the Lin-chi and Kuei-yang, proceeded from Ma-tsu Tao-i and Pai-chang Huai-hai. The Lin-chi House later produced two offshoots, the Yang-chi and Huang-lung. When these last two were added to the Five House, together they are referred to as the Seven Schools of Zen.
The term “Five Houses and Seven Schools” is used in Zen Buddhism to designate the main divisions of the Ch’an tradition in T’ang dynasty China. The scheme of the Five Houses or schools of Chinese Zen Buddhism was first articulated by Fa-Yen Wen-I (885-958). The five houses are traditions which arise from one origin which is “Directly Point to Mind to see one’s True Nature and to realize the Buddhahood” taught by the Sixth Zen Patriarch Hui-Neng. Later, there were two more branches of Yang-Ch’i and Huang Lung. First, the Kuei Yang Tsung: Kuei Yang Zen sect established by two disciples of Pai-Ch’ang-Huai-Hai. The thirty-seventh generation after the first Patriarch Mahakasyapa, Zen master Ling Yu became the first patriarch of the Kuei Yang Tsung. 'Kuei' is the first word of 'Kuei-Shan Ling-Yu' (a disciple of Pai-Ch’ang). 'Yang' is the first word of 'Yang-Shan-Hui-Ji' (a disciple of'Kuei-Shan). In the middle of the tenth century, this school merged with Lin-Chi school and since then no longer subsisted as an independent school. Second, the Ts'ao Tung Ch’an: The thirty-eighth generation after the first Patriarch Mahakasyapa, Zen Master Tung-shan Liang-Chieh became the First Patriarch of the Ts'ao-tung Tsung. Ts'ao Tung tradition was founded by Tung-Shan Liang-Chieh (807-869) and his student Ts’ao-Shan Pen-Chi (840-901). The name of the school derives from the first Chinese characters of their names. It was one of the “five houses” of Ch’an. There are several theories as to the origin of the name Ts’ao-Tung. One is that it stems from the first character in the names of two masters in China, Ts’ao-Shan Peân-Chi, and Tung-Shan Liang-Chieh. Another theory is that Ts’ao refers to the Sixth Patriarch and the Ch’an school was founded by Hui-Neng, the sixth patriarch. Third, the Lin-Chi Zen School: The thirty-eighth generation after the first Patriarch Mahakasyapa, Zen Master Lin Chi became the founding Patriarch of the Lin Chi School. The Lin Chi School was one of the most famous Chinese Ch’an founded by Ch’an Master Lin-Chi I-Hsuan, a disciple of Huang-Po. At the time of the great persecution of Buddhists in China from 842 to 845, Lin-Chi founded the school named after him, the Lin-Chi school of Ch’an. During the next centuries, this was to be not only the most influential school of Ch’an, but also the most vital school of Buddhism in China. Lin-Chi brought the new element to Zen: the koan. The Lin-Chi School stresses the importance of “Sudden Enlightenment” and advocates unusual means or abrupt methods of achieving it, such as shouts, slaps, or hitting them in order to shock them into awareness of their true nature. The Lin-chi Zen School was founded and propagated by Lin-Chi, a Dharma heir of Zen Master Huang-Bo. In China, the school has 21 dharma successors, gradually declined after the twelfth century, but had been brought to Japan where it continues up to the present day and known as Rinzai. Fourth, the Yun Men Tsung: The Fortiefth generation after the first Patriarch Mahakasyapa, Zen Master Wen-Yen founded the Wen-Men Tsung. Later, Hsueh-Tou Ch'ung-Hsien collected the koans which published by Yuan Wu K'o Ch'in in the Pi-Yen-Lu (the Blue Cliff Record). Hsueh-Tou was the last important master of the Yun Men School, which began to decline in the middle of the 11th century and died out altogether in the 12th. Fifth, the Fa-Yen Zen School: The Forty-second generation after the first Patriarch Mahakasyapa, Zen Master Fa-yen Wen-Yi founded the Fa-yen Tsung. The Fa-Yen school of Zen that belongs to the 'Five houses-Seven schools', i.e., belongs to the great schools of the authentic Ch'an tradition. It was founded by Hsuan-sha Shih-pei, a student and dharma successor of Hsueh-feng I-ts'un, after whom it was originally called the Hsuan-sha school. Master Hsuan-sha's renown was later overshadowed by that of his grandson in dharma Fa-yen Wen-i and since then the lineage has been known as the Fa-yen school. Fa-yen, one of the most important Zen masters of his time, attracted students from all parts of China. His sixty-three dharma successors spread his teaching over the whole of the country and even as far as Korea. For three generations the Fa-yen school flourished but died out after the fifth generation. Sixth, the Yang-Ch'i Pai: The Forty-fifth generation after the first Patriarch Mahakasyapa, the Eighth Generation of the Lin Chi Tsung, starting point of the Yang-Chi Zen Branch. It is one of the two most important lineages into which the Lin-Chih split after Shih-Shuang Ch’u-Yuan. As a traditional lineage of Lin-Chih Zen, it is also called the Lin-Chih-Yang-Qi lineage. The Yang-Qi school produced important Zen masters like Wu-Men-Hui-K’ai, the compiler of the Wu-Men-Kuan, and his Dharma successor, Kakushin, who brought the Ch’an of Lin-Chih-Yang-Qi lineage to Japan, where as Zen it still flourishes today. As Ch’an gradually declined in China after the end of Sung period, the Lin-Chih-Yang-Qi school became the catchment basin for all the other Ch'an schools, which increasingly lost importance and finally vanished. After becoming mixed with the Pure Land school of Buddhism, in the Ming period Ch’an lost its distinctive character and ceased to exist as an authentic lineage of transmission of the Buddha-dharma “from heart-minf to heart-mind.” Seventh, Huang Lung Pai: The Forty-fifth generation after the first Patriarch Mahakasyapa, the Eighth Generation of the Lin Chi Tsung, starting point of the Huang-lung Zen Branch. It belongs to the 'seven schools' of Ch'an and was the first school of Zen in Japan, brought there by Eisai Zenji. However, it died out both in China and Japan after a few generations. Since Oryo lineage developed out of the Rinzai school, it is also called the Rinzai-Oryo School.
Among these seven Zen Schools, two schools of Ts'ao Tung and Lin Chih are the most outstanding schools and still survive nowadays. While the Lin-chi approach is to put the student's mind to work on the solution of an unsolvable problem known as koan or head phrase exercise. The approach of the Lin-chi school may be regarded as covert or esoteric is very complicated, for the Lin-chi approach of head phrase exercise is completely out of the beginner's reach. He is put purposely into absolute darkness until the light unexpectedly dawns upon him. On the contrary, the Tsao-tung approach to Zen practice is to teach the student how to observe his mind in tranquility. We may regard the approach of the Tsao-tun school as overt or exoteric. If, in the beginning, the student can be properly guided by a good teacher, the approach of Tsao-tung sect is not too difficult to practice. If one can get the 'verbal instructions' from an experienced Zen Master one will soon learn how to 'observe the mind in tranquility' or, in Zen term, how to practice the 'serene-reflection' type of meditation.
This set of three books titled “Essential Summaries of the Five Houses and Seven Schools” is not a profound philosiphical study of the the Zen School, but a book that summarizes Chinese Seven Zen Schools & Their Lineages of Transmissionas well as methods of cultivation of each school after the birth of Zen in China. Devout Buddhists should always remember the ultimate goal of any Buddhist cultivator is to attain enlightenment and emancipation, that is to say to see what method or methods to escape or to go beyond the cycle of births and deaths right in this very life. For these reasons, though presently even with so many books available on Buddhism, I venture to compose this booklet titled “Essential Summaries of the Five Houses and Seven Schools” in Vietnamese and English to briefly introduce on the Zen School in its early time, one of the most important Zen schools in Buddhism. Hoping this little contribution will help Buddhists in different levels to understand on how to achieve and lead a life of peace, mindfulness and happiness.
Respectfully,
Thien Phuc
Xem thêm:
Biểu đồ truyền thừa các tông phái Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam