- Mục Lục
- Lời Người Dịch
- Duyên Khởi Lăng-già Tâm Ấn
- Lăng –Già A-bạt-đa-la Bảo Kinh Tâm Ấn
- Phần I
- Phần 2: Chánh Tông
- A. Chỉ Thẳng Pháp Môn Đệ Nhất Nghĩa Rộng Lớn Vi Diệu Lìa Nói Bặt Chứng
- B. Chỉ Năm Pháp Tự Tánh, Vô Ngã, Giản Biệt Nhị Thừa Ngoại Đạo, Để Rõ Nhân Quả Của Chánh Pháp
- C. Chỉ Như Lai Tàng Siêu Quá Vọng Tưởng Ngôn Thuyết Của Phàm Ngu Và Ngoại Đạo Thành Tựu Các Địa Cứu Kính Quả Hải
- D. Chỉ Tự Giác Nhất Thừa Soi Sáng Các Địa, Khéo Đoạn Các Lậu, Viên Mãn Thân Phật, Chẳng Rơi Vào Có Không
- E. Chỉ Tông Thuyết Hai Đều Thông Để Rành Về Dụng Ngữ Nghĩa Thức Trí, Giản Biệt Ngu Ngoại, Giúp Tiến Mình Người, Chánh Pháp Giải Thoát
- F. Chỉ Chánh Giác Chẳng Phải Pháp Nhân Quả, Nói Lìa Sanh Diệt, Hiển Bày Chân Thường Không Cấu, Chóng Vượt Các Địa
- G. Chỉ Tám Thức Năm Pháp Ba Tự Tánh Hai Vô Ngã Cứu Kính Đại Thừa Thành Đệ Nhất Nghĩa
- H. Che Pháp Thân Ba Đời Như Lai Quá Chỗ Nghĩ Ngợi Của Thế Gian, Chẵng Phải Nghĩa Sát-na, Trước Sau Không Lỗi Thanh Tịnh Vô Lậu
KINH LĂNG GIÀ TÂM ẤN
Thiền Sư Hàm Thị Sớ Giải
Hoà Thượng Thích Thanh Từ Việt Dịch
Thiền Viện Thường Chiếu
DUYÊN KHỞI LĂNG-GIÀ TÂM ẤN
Người sớ kinh này là Lôi Phong lão nhân, vốn là móng vuốt trong
tông môn, vào được hang ổ của
tánh tướng. Ngài thương sự hoang rậm của
nghĩa học và xót chỗ
hỗn độn của
thiền môn, nên từ năm Quí Tỵ (1653)
lui về ẩn nơi Khuông Phụ, treo bầu ở Kim Tỉnh, dựng gậy tại Ngọc Uyên. Hỏi về chỗ khế chứng thì Ngài tâm lặng biển trong, ngửa nhìn thói đẹp thì thân như ngọn núi cao
trơ trọi. Như
Địa Tạng Sâm cày ruộng nuôi sống, như Thê Hiền Thực tụng tập
tu hành. Lò tàn bếp lạnh, chỉ toàn nêu
đại pháp. Cước tùng
lẫn lộn tơ rối bòng bong, nương nơi trí bén mà cắt đứt trăm mối. Ngài đối với
cổ nhân thật không hổ thẹn.
Đến năm Mậu Tuất (1658), Ngài trở về Lãnh Nam. Kim Vô tôi năm sau từ Ngọc Môn tìm đến, khoảng năm Nhâm Dần (1662) và Quí Mẹo (1663) cùng chư đệ Thạch Giám v.v… thưa hỏi về Duy thức. Ngài bảo: “Kinh Lăng-già chỉ minh sơ thần ngã chẳng cùng tánh châu mà lạm nhận, nương lông rùa dầu cát mà chóng giác vọng tình tự mất.” Nhân Ngài nêu bày chỉ yếu, chúng tôi bèn thỉnh sớ giải.
Ngài khéo hiệp với Tâm tông, lại toàn thông danh tướng. Chẳng những giũa mài cây trụ cuồng thiền cũng gồm kích dương nơi giảng tịch. Tượng tâm cao vót dầm nghĩa hải nơi nguồn sâu, thần cơ sâu lặng phá các nạn vấn trong nửa bài kệ. Nhọc nhằn mệt mỏi, nhóm họp sưu tầm liền thấy đại nghĩa hiện bày sáng rỡ, mừng lời diệu mà không mắc kẹt. Giáo để giúp tông, chỉ truyền riêng bốn quyển. Thức tức là tàng, trợ đại tâm để lấn át Nhị thừa. Đây thật là vận dụng tâm tối thượng, trông xa thấy thời tệ mà làm ấy vậy. Trong lời sớ có nhập lý thâm đàm mà vẫn khít khao với văn kinh. Chính nơi văn nghĩa mà thấy tông thừa, hội tông thừa mà tiêu dung văn nghĩa. Dám thầm nêu lên để chỉ cho kẻ hậu học. Bốn sông đều chảy vào biển, một hòn bọt cũng chẳng còn. Ấy tại xem văn lóng trong mắt tuệ.
Thời vua Khang Hi năm Giáp Thìn (1664) ngày mùng 10 tháng 8, đệ tử nối pháp Kim Vô cúi đầu kính thuật.